• Trang chủ
  • Tin tức
  • Tác giả – Mắc mưu Thị Hến – Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10
storage/uploads/tac-gia-tac-pham-mac-muu-thi-hen-tuong-tom-tat-hoan-canh-st-noi-dung-nghe-thuat-so-do-tu-duy_1

Tác giả – Mắc mưu Thị Hến – Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

Khái quát Tác giả – Tác phẩm: Mắc mưu Thị Hến bao gồm tìm hiểu về tuồng và hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, tóm tắt, giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Mắc mưu Thị Hến – SGK Văn 10 Cánh diều

Tác giả – Tác phẩm: Mắc mưu Thị Hến – Tuồng

I. Khái quát tác phẩm Mắc mưu Thị Hến

1. Thể loại 

Tuồng, luông tuồng, hát bộ, hát bội là những cách gọi một loại hình nhạc kịch thịnh hành tại Việt Nam. Khác với các loại hình sân khấu khác như chèo, cải lương.

Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Tuồng.

Có thể nói Tuồng là sân khấu của những người anh hùng…Loại hình này khác biệt với cải lương xã hội, cải lương Hồ Quảng (cải lương tuồng cổ), thoại kịch, opera là những hình thức diễn xướng sân khấu mới ra đời trễ và được chuộng hơn.

2. Hoàn cảnh ra đời

+ Văn bản Mắc mưu thị Hến được trích từ vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến

+ Tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến

– Nghêu, Sò, Ốc, Hến thuộc loại tuồng đồ (tuồng hài), châm biếm sâu sắc nhiều thói hư tật xấu trong xã hội và lật tẩy bộ mặt xấu xa của một số kẻ thuộc bộ máy cai trị ở địa phương trong xã hội xưa.

– Đây là tác phẩm tiêu biểu trong di sản tuồng truyền thống và là vở tuồng đồ thuộc loại đặc sắc nhất

– Tích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến có một số dị bản, kể khác nhau ở một vài chỗ, trong đó có tình tiết đánh ghen cuối vở

– Văn bản Nghêu, Sò, Ốc, Hến do Hoàng Châu Ký chỉnh lí (1957) gồm có tất cả ba hồi.

3. Nội dung chính

Văn bản “Nghêu, Sò, Ốc, Hến” nói về sự việc cả ba người Nghêu, Đề Hầu, huyện Trìa đều mắc mưu Thị Hến. Trời tối Thị Hến hẹn cả ba tới nhà. Từng người đến và phải đi trốn. Khi đủ cả ba người trong nhà, Thị Hến liền bày mưu để cho Nghêu từ gầm giường bò ra, Đề Hầu ngồi trong thúng chui ra. Tất cả cùng xuất đầu lộ diện và bị một phen bẽ mặt. 

4. Bố cục

– Phần 1:  từ đầu đến … “sẽ bày tự tình”: Nghêu và Thị Hến 

– Phần 2: tiếp đến … “hễ phá giới tức hành trảm quyết”: Đề Hầu và Thị Hến 

– Phần 3: tiếp đến… “giữ dạ đừng ham của lạ”: Huyện Trìa, Đề Hầu và Thị Hến 

– Phần 4: còn lại: Kết thúc vở tuồng. 

5. Giá trị nội dung 

– Lên án và tạo ra tiếng cười sâu sắc, chua cay trong tác phẩm.

– Đưa ra bài học còn có ý nghĩa tới ngày nay, cảnh tỉnh con người không nên tham lam, mê muội, sa đọa vào những thói hư tật xấu.

– Thể hiện sự phê phán, lên án và cười chê với những thói dung tục, xấu xa, đam mê tửu sắc của con người.

6. Giá trị nghệ thuật 

Là loại hình tuồng hài, do tác giả sống trong dân gian sáng tác, lấy đề tài trong cuộc sống đời thường và để diễn cho dân chúng xem, nội dung mang tính châm biếm, đả kích quan lại địa phương, giàu chất hài hước, làm cho vở diễn có sức hấp dẫn từ đầu đến cuối… Nhiều nhân vật, diễn tích trong vở trở thành những thành ngữ thông dụng trong dân gian.

7. Tác phẩm Mắc mưu Thị Hến

LỚP 19

[…]

NGHÊU: Trời tăm tối đi hầu bổ?! ngửa,

Cây bụi bờ rờ?! chăng ra đường.

(Này! Này! Thím ơi! Mỗ*® đã sang. Mở cửa

mình vào với)

THỊ HẾN: Chào thầy mới tới, __ ngữ và hành động của

Trả nước vội vàng. mỗi nhân vật.

Đắng lòng đầy đó giao duyên,

(Nhưng) Sợ nỗi thê gian đảm tiêu (thôi).

NGHÊU: Văn đà trước liệu,

Lựa phải sau lo.

Kệ kinh chuông mõ trả cho chùa,

Cày, cây, đâm, xay đành phận mỗ.

(Này này!) Khuyến cùng với đó,

Chớ khá nhụ đây.

Tuy làm vậy” cũng tiếng ông thấy,

Ở như vậy uổng tài bà giả.

(Tiếng Đề Hầu kêu cửa)

THỊ HẾN: (Ủa!) Tiếng ai kêu chỉ lạ?

Hay thầy Lại tới đây?

(Này! Này! Mô Phật!)

Đi ra kẻo tội với thầy,

Ở đó ắt tai?! trước mắt! (Chớ chẳng chơi đâu.)

NGHÊU: (Trời trời!)

Lão Để lại làm chỉ quá ngặt?

Khiến thầy tu chạy đã hầu điên.

(Thím ơi! Thím!)

Trốn chỗ nào khác chỉ cho min#!!

(Chớ) Ra cửa có thầy Đề đứng đó!

THỊ HẾN: Dưới phản ngựa thầy mau xuống đó.

(Đẻ tôi) Ra ngõ mời người đặng vào đây.

Câu chuyện chỉ chịu khó một giây.

(Để) Người về đã, sẽ vầy“? hai mặt.

(Nghêu chui xuống gâm phản, Đề Hầu vào)

Lại nói: (Thưa thầy!) 

Nghe kêu lật đật, 

Mở cửa vội vàng,

Thinh lại gia trang?

Sẽ bảy tình tự.

ĐẺ HẦU: Ơn mỗ cứu cho bữa trước,

Nay nường còn nhớ chưa quên?

Sao đã cùng ông Huyện kết duyên,

Mà vội phụ thầy Đề tình ngãi (hử)?

THỊ HẾN: Xin thầy hãy nghĩ lại,

Quan Huyện dạy, (tôi) phải vãng.

Đành đôi ta là cái duyên hằng!)

(Thế má) Không nghe đỏ, sao cho yên việc (a thưa thầy?)

ĐÈ HẦU: (Phải lắm! Thế mới biết)

Đèn không khêu không tỏ,

Chuông không đánh không kêu.

(Ta nói thiệt)

Đó không thương đây cũng quyết liều,

(Chữ) Duyên đã khăn? nường tua?) giữ dạ.

THỊ HẾN: Ân ái việc còn thong thả,

Rượu trả xin hãy vui chơi!

Chẳng mấy khi đặng hiệp một nơi,

Bây giờ đã gặp nhau hai mặt.

(Chữ có việc này)

Tôi xin hỏi thiệt, thầy khá tỏ bày!

Thây hảng xem luật lệ xưa nay,

Tu (mà) phá giới, tội chỉ khinh trọng“ (thưa thây?)

ĐỀ HẦU: Lỗ tai nghe quá chướng,

Trong luật lệ rất to,

Hễ phá giới tức hành trảm quyết”!

(Huyện Trìa tới)

HUYỆN TRÌA: (Nói ngoài cửa)

Viên ngoại diêu văn tế thuyết,

Môn tiên hữu ngã quan nhơn “’

Mở cửa ra! Mau tiêp đại tân!

Ở mụt! Kíp kíp ra mời quan Huyện (nào!)

ĐÈ HẦU: (Chui chao!)

Văn ngôn sắc biến! Sắc biến!

Thính thuyết hồn kinh! Hỗn kinh”!

Nếu mà ông Huyện tri tình,

Chắc hăn thảy Đề mang khô!

(Đề Hầu trốn, ông Huyện vào)

HUYỆN TRÌA: Việc thuế má án từ quá gấp,

THỊ HẾN:

Đêm tối tăm đàng xá (lại) khó đi.

Tưởng mụ đã tới lúc ngủ khi,

Làm mỗ chạy ướt hầu bổ sắp.

Khi sớm, tôi đợi mình lâu lắm,

Từ rày xin tới mụ cho liên,

Gẫm đả phải nợ phải duyên,

Thôi chớ làm hờn, làm giận (nữa mã!)

Nghĩ mà tủi phận,

Đâu đám trách ai,

(Nhưng tôi nghĩ lại như ông)

Vợ còn, con sẵn, thiếu chị,

(Mà buộc tôi không đặng?)

Trai qua gái không thưởng lệ,

(Tôi cũng) Cam phận thiếp muối trường cơm tẻ,

(Nhưng mà tôi}

E chánh thê cả tiếng nhiều lời (đó thôi!)

(Cho nên tôi}

Lãnh một xóc, lọ một nơi,

Khó trỗi thây, giàu ai chẳng luy!

HUYỆN TRÌA: (Ui chao! Chừ!)

THỊ HẾN:

Ta nghỉ ngơi kéo mệt,

Nói dài lắm cũng buôn.

Khuyến khuyên xim chứ làm tuông,

Bớt bớt xin đừng nói bợm!

Sợ gan ruột đàn ông nhiều lớp,

Việc nợ duyên dễ thiếp mấy nơi?

Rượu trả hãy xin mời,

Ái ân rồi có đó,

(Bảy giờ tôi xin nhở quan)

Vốn tôi chưa rõ,

Xin hỏi một lời:

Người từng xem luật lệ nơi nơi,

(Là) Có một việc ở đời lạ lạ.

Rây có chú thầy tu rất chặt,

Hay tới nhà mà ve bả goä;

Đã xuất gia, phá giới làm vơt,

Thời luật pháp xử chỉ cho rũ?

HUYỆN TRÌA: (Giấy!)

Nói làm chỉ việc rồi,

Ai có tiếc làm chi.

Phàm tu hành mà đã xuất gia,

Có phá giới đánh đòn phát lạc’°’!

NGHỀU: (Từ gầm giường bò ra)

Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc!

Thiện xử phân! Thiện xử phân!”!

(Bẩm quan lớn, lời quan dạy rất minh, chớ thầy Đề ngồi — thủng mơ nói mới

ức chế! Bẩm quan lớn!)

Chơn vi phụ mẫu chi dân!

(Chữ thầy Đề)

Chỉ thị đâm ô chỉ loại”

Như thầy tu phá giới,

Thời bắt quá đánh đòn.

Còn thấy Lại phạm gian.

Thật ắt là tội chết!

ĐÈ HẦU: (Lôm cảm bò ra) 

Đầu đuôi tại mụ Hến, 

Mưu mẹo bởi lão thầy tu

Bảy quan Huyện trớ trêu

Mắc đàn bà quá tội.

Tôi cam chịu lỗi,

Ai biết mà chế!

Trong nha môn cả Huyện đến Đẻ,

Còn tạo lệ không mời luôn thê!

HUYỆN TRÌA: Thây Lại lảm nên quá tệ,

Như nhà sư bắt chước cổ trêu.

Mắc cỡ lêu lêu!

Lêu lêu mắc cỡ!

Rất nên quái gở,

Lãm việc lãng nhãng!

Hễ miếng to bay quyết kiếm ăn,

Còn đỗ vặt bay làm sạch trụi.

Thấy tu khá lui về cho khỏi,

Đề lại mau cõng mỗ vẻ nhà.

Dẫn lòng thôi chớ ngứa nghè,

Giữ dạ đừng tham của lạ.

(Hạ)

THI HẾN: Tâm khoái đã! Tâm khoái dã!

Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên”!

Thế thầy tu hết tới ngõ nói điên,

Rày quan Huyện hết đến nhà làm bậy.

Giữ tiết hạnh một niềm cho toại.,

Nỗi nhơn duyên đôi chữ không mảng.

(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 12,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)

8. Sơ đồ tư duy

Tác giả - Tác phẩm: Mắc mưu Thị Hến - Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy)

II. Câu hỏi vận dụng kiến thức tác phẩm Mắc mưu Thị Hến

Câu1: Chú ý các chỉ dẫn sân khấu để xác định ngôn ngữ và hành động của mỗi nhân vật.

Lời giải:

– Nghêu: Tiếng Đề Hầu kêu cửa, Từ gầm giường bò ra.

– Đế Hầu: Vào, trốn, ông Huyện vào, Huyện Trìa tới; Nói ngoài cửa, Lổm cổm bò ra.

– Thị Hến: Nghêu chui xuống gầm phản.

– Huyện Trìa: Hạ.

Câu 2: Xác định bối cảnh (không gian, thời gian) và các nhân vật tham gia câu chuyện trong đoạn trích Mắc mưu Thị Hến. Hãy tóm tắt nội dung đoạn trích.

Lời giải:

– Không gian và thời gian trong đoạn trích Mắc mưu Thị Hến là không gian hẹp chỉ có từ nhà thị Hến ra đến cửa khi có người đến, thời gian là trời tăm tối.

– Nhân vật tham gia: Nghêu, Thị Hến, Đề Hầu, huyện Trìa.

– Tóm tắt nội dung đoạn trích: Ba người Nghêu, Đề Hầu, huyện Trìa đều muốn có được Thị Hến. Trời tối Thị Hến hẹn Nghều đến đến nhà, nhưng Nghêu không biết được Thị Hến mời luôn cả hai người kia đến. Nghêu đến đầu tiên, khi đang ngồi ngồi tán tán tỉnh Thị Hến thì Đề Hầu gõ cửa vào khiến Nghêu phải chui vào gầm phản trốn. Khi Hầu Đề vào nhà chưa được ấm chỗ thì Huyện Trìa đến, Đề Hầu vội tìm chỗ trốn. Khi đủ cả ba người trong nhà, Thị Hến liền bày mưu để cho Nghêu từ gầm giường bò ra, Đề Hầu ngồi trong thúng chui ra. Tất cả cùng xuất đầu lộ diện và bị một phen bẽ mặt.

Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số chỉ dẫn sân khấu có trong văn bản Mắc mưu Thị Hến.

Lời giải:

Một số chỉ dẫn sân khấu có trong văn bản Mắc mưu Thị Hến: Tiếng Đề Hầu kêu cửa, Từ gầm giường bò ra, Đế Hầu: vào, trốn, ông Huyện vào, Huyện Trì tới, nói ngoài cửa, lổm cổm bò ra., Thị Hến: Nghêu chui xuống gầm phản, Huyện Trìa hạ,…

=> Tác dụng: tác phẩm thêm sinh động, hấp dẫn, tạo tiếng cười cho người đọc.

Câu 4: Trong văn bản, tác giả dân gian đã thể hiện thái độ như thế nào đối với các nhân vật?

Lời giải:

Tác giả đã thể hiện thái độ phê phán cho những ngôn ngữ, lời nói, cử chỉ, hành động của các nhân vật Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa. Qua văn bản, cho ta thấy những thói hư tật xấu, bộ mặt giả dối cùng tính cách hèn nhát với dục vọng tầm thường của tầng lớp cường hào ác bá phong kiến. Còn đối với nhân vật Thị Hến, tác giả cho ta thấy được ở trong cô có sự khao khát được hạnh phúc, xinh đẹp và đầy thông minh.

>>> Xem trọn bộ: Tác giả – Tác phẩm Văn 10 Cánh diều

—————————–

Trên đây THPT Trịnh Hoài Đức đã cùng các bạn Khái quát về Tác giả – Tác phẩm: Mắc mưu Thị Hến trong bộ SGK Văn 10 Cánh diều theo chương trình sách mới. Chúng tôi hi vọng các bạn đã có kiến thức hữu ích khi đọc bài viết này. THPT Trịnh Hoài Đức đã có đầy đủ các bài giới thiệu về tác giả tác phẩm các bộ sách mới Cánh Diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức. Mời các bạn hãy click ngay vào trang chủ THPT Trịnh Hoài Đức để tham khảo và chuẩn bị bài cho năm học mới nhé. Chúc các bạn học tốt! 

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết