• Trang chủ
  • Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi (hay nhất)
storage/uploads/phan-tich-tinh-huong-truyen-chiec-thuyen-ngoai-xa-hoc-sinh-gioi_1

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi (hay nhất)

Hướng dẫn Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi ngắn gọn, hay nhất. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp nâng cao, chi tiết từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé!  

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi – Bài mẫu 1

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn có phong cách rất độc đáo, trong mỗi tác phẩm của mình ông đều lồng ghép một triết lý sống sâu sắc gửi tới người đọc của mình.

Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm hay kể về số phận của người đàn bà vùng biển nghèo khổ lam lũ, hy sinh cho chồng cho con không than thở, oán hận nửa lời. Một đức hy sinh nhẫn nhịn, cam chịu tới tận cùng của mọi nỗi đau làm lay động trái tim người đọc sâu sắc.

Trong truyện ngắn của mình tác giả đã tạo ra tình huống truyện vô cùng độc đáo. Anh phóng viên, nhiếp ảnh gia Phùng đi thực tế săn ảnh nghệ thuật tìm cái đẹp hoàn mỹ trong cuộc sống để làm lịch.

Nhưng rồi tình cờ anh gặp được một người đàn bà tuổi trung niên, rồi phát hiện ra một bức tranh tuyệt tác đó chính là hình ảnh chuyến thuyền ngoài xa thấp thoáng trong sương sớm, khi ẩn khi hiện, thiên nhiên hiện lên bao la trước mắt anh khiến cho anh vô cùng mừng rỡ vì tìm được tuyệt phẩm của đời mình.

Chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp biết bao, nhưng khi nó lại gần thì anh phóng viên Phùng phải chứng kiến một sự thật đau lòng, bị thương đó hình ảnh những người nông dân lao động nghèo khổ,. Họ đang làm việc một cách cực nhọc không hề hạnh phúc.

Anh nghe thấy người ngư dân quát tháo vợ với những lời lẽ tức giận, căm phẫn “Cứ ngồi yên đấy. Động đậy tao giết cả mày bây giờ”. Hình ảnh người ngư dân hiện lên khuôn mặt đỏ căng, phừng phừng tức giận lão rút chiếc thắt lưng da ngày xưa quật tới tấp vào người phụ nữ trước mặt, rồi đánh xong dường như mệt qua hắn há mồm thở hồng hộc như con lợn đói ăn, hai hàm răng nghiến lại, cứ mỗi lên vung dây lưng lên rồi quăng xuống hắn lại rít lên “mày chết đi cho ông nhờ”

Hình ảnh người đàn bà nhẫn nhịn, chịu đựng mọi đòn roi những lời lăng nhục xỉa xói của chồng không một lời oán thán, hay cãi lại, không một sự chống cự dù là yếu ớt nhất khiến cho Phùng sững người kinh ngạc. Rồi Phùng thấy một người con trai chạy tới chỗ người đàn ông trung niên kia cướp lấy thắt lưng trong tay ông bố của mình.

Nó uất ức cầm chiếc thắt lưng và vung tay mạnh quật chiếc thắt lưng da vào vùng ngực của người đàn ông trung niên- Chính là bố mình để bảo vệ người đàn bà tội nghiệp là mẹ nó. Một hành động bộc phát, một tình huống nghịch lý.

Tình huống truyện của tác giả vô cùng éo le, giữa một bên là sự huyền ảo, mê đắm của cái đẹp tựa như thần tiên long lanh trong sương sớm đó chính là hình ảnh chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi, với sự thật phũ phàng về những thân phận con người sở hữu chiếc thuyền đánh cá đó.

Những số phận bị cuộc sống ngược đãi, lam lũ không có hạnh phúc. Một tình huống truyện thật éo le, bi kịch tạo nên dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Đồng thời thể hiện quan điểm của tác giả là nghệ thuật trước hết phải gắn liền với đời sống thực tế của con người.

Cũng giống như nhà văn Nam Cao đã từng nói “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ là sự đau khổ thoát ra từ những kiếp người lầm than”

Một tình huống nữa khá bi kịch độc đáo được tác giả xây dựng lên khiến người đọc không khỏi ám ảnh và suy nghĩ: Đó là người đàn bà được quan tòa mời đến để nhằm giải quyết vụ việc con đánh cha và khuyên người đàn bà hãy ly dị với người chồng vũ phu hà khắc kia đi, bởi chính quyền đã nhiều lần khuyên nhủ răn đe anh ta nhưng không hề có sự cải thiện. Anh chồng vẫn thường xuyên đánh vợ rất tàn nhẫn.

Tuy nhiên, người đàn bà đã giải thích, rằng đàn bà sống ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không sống như những người trên đất được. Một người đàn bà cam chịu, và hiểu rõ nỗi khổ của thân phận mình, nên bà không bao giờ oán thán.

Những lời lẽ chân thành của người đàn bà kia đã giúp cho những người đại diện cho quan toàn, cho công lý công bằng trong xã hội hiểu ra nghịch lý của cuộc đời đó là “Sống ở thuyền cần phải có một người đàn ông chèo lái dù hắn tàn bạo độc ác”

Những người làm công lý luôn muốn mang tới cuộc sống tốt đẹp cho những số phận những hoàn cảnh tăm tối, nhưng phải có giải pháp thực tế phù hợp, còn nếu giải pháp không thỏa đáng thì lòng tốt sẽ trở thành thứ lý thuyết xa rời thực tế, xa xỉ, xa hoa mà thôi.

Thông qua tình huống truyện này khiến cho nhân vật Phùng nhận ra được bản chất thật sự của cuộc sống không thể nhìn từ bên ngoài mà phải đi sâu vào bên trong nhiều phương diện khác nhau thì mới có thể cảm nhận rõ được. Có những thứ khi nhìn từ xa ta thấy chúng rất đẹp nhưng lại gần mới hiểu được những xấu xa, đau khổ bên trong nó.

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi – Bài mẫu 2

Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh và tài hoa của nền văn học trong giai đoạn đổi mới sau năm 1975. Đứng trước sự thay đổi của thời đại, nhận thức được nhu cầu đổi mới văn học, Nguyễn Minh Châu đã người tiên phong gieo những hạt giống đầu tiên trên con đường đổi mới ấy. Nếu như trong giai đoạn trước Nguyễn Minh Châu sáng tác theo cảm hứng sử thi đậm nét, sau năm 1975 ông đã chuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lý nhân sinh. “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc được sáng tác theo cảm hứng thế sự ấy. Truyện ngắn đã xây dựng được tình huống đặc sắc, qua đó thể hiện được những tư tưởng triết lí nhân sinh mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm.

Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh gia tên Phùng, qua tình huống bất ngờ mà Phùng bắt gặp trên bãi biển tác giả đã thể hiện được cái nhìn sâu sắc về cuộc sống cũng như sự trăn trở về số phận của con người trong giai đoạn đổi mới.

Tình huống truyện của “Chiếc thuyền ngoài xa” cũng là tình huống đầy nghịch lý mà người nghệ sĩ Phùng đã phát hiện khi tác nghiệp trên bãi biển. Anh Phùng nhận nhiệm vụ đến vùng biển Miền Trung, cũng là nơi anh cùng đồng đội cầm súng chiến đấu giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân để chụp bộ ảnh làm lịch. Sau nhiều ngày chụp ảnh, Phùng đã phát hiện ra khoảnh khắc trời cho, đó là khoảnh khắc cảnh biển trong cái hồng hồng của sương sớm vô cùng thơ mộng, Phùng đã tiếp cận được cảnh chiếc thuyền ngoài xa vô cùng thơ mộng, anh đã bấm máy liên tục để ghi lại cảnh sắc trời cho này.

Tuy nhiên, cũng tại bãi biển ấy anh đã chứng kiến một nghịch cảnh của cuộc sống – cảnh bạo hành trong gia đình làng chài sống trong chính chiếc thuyền kia, từ một trong những con thuyền bước ra một người đàn ông to lớn, thô lỗ, phía sau là người đàn bà khốn khổ, đáng thương. Người đàn ông vừa đánh vừa chửi người đàn bà bằng những lời nói thậm tệ, tàn nhẫn nhất, trong khi đó người đàn bà không hề phản kháng, cũng không cầu xin van lài mà chỉ im lặng hứng chịu những trận đòn roi tàn nhẫn.

Cái nghịch lý của tình huống thể hiện trong sự đối lập giữa khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, toàn bích nhưng trong khung cảnh ấy lại tồn tại những cảnh đời đen tối của những người dân nghèo. Khi chứng kiến cảnh bạo lực gia đình, Phùng đã ném máy ảnh xuống đất để chạy lại giúp đỡ người đàn bà nhưng lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt. Chính nghịch cảnh cùng thái độ của người đàn bà hàng chài khiến cho Phùng không sao hiểu được.

Người đàn bà bất hạnh, nạn nhân của bạo lực gia đình bị chính chồng của mình ngược đãi nhưng vẫn cam chịu sống với người đàn ông tàn nhẫn, vũ phu. Khi biết được trận đòn roi trên bãi biển chỉ là một trong rất nhiều trận đòn khác “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, Phùng cũng như độc giả bàng hoàng, không thể tin nổi trước thái độ cam chịu một cách mù quáng của người đàn bà ấy. Không những thế, khi được Phùng và Đẩu giúp đỡ để bỏ đi người đàn ông vũ phu, thoát khỏi cuộc sống đọa đày như trong địa ngục thì người đàn bà ấy đã quyết không bỏ chồng, quỳ xuống van lạy để không bỏ chồng và bênh vực cho người chồng tàn nhẫn ấy.

Qua câu chuyện của người đàn bà hàng chài, Phùng và Đẩu cũng đã nhận ra nhiều góc khuất tối tăm của cuộc sống, từ đó Phùng cũng nhận thức sâu sắc về nghệ thuật và cuộc sống. Cái đẹp ngoại cảnh mà Phùng phát hiện chỉ là cái đẹp đẽ bề ngoài nhưng sâu bên trong cái đẹp đẽ ấy lại che khuất đi những cái khốn khổ của đời sống. Khi mới phát hiện ra khung cảnh trời cho, Phùng đã đắm chìm trong khát khao sáng tạo nghệ thuật, cảm thấy nhẹ nhõm như được thanh lọc con người, nhưng sau đó anh lại phát hiện ra sự thật xù xì, tàn nhẫn bên trong cái khung cảnh toàn bích đó.

Cái đẹp của khung cảnh thiên nhiên có thể che khuất đi sự thật tàn nhẫn thì cũng chính cái sự thật, nghịch lý của cuộc sống cũng có thể làm cho cái đẹp bị khuất lấp, bởi khi nhận thức được những góc khuất của cuộc sống, nhìn lại bức tranh cảnh biển mà mình đã chụp ảnh, Phùng lại cảm thấy trăn trở, nhức nhối với những suy tư về cuộc sống.

Từ cái phức tạp của góc khuất cuộc đời, Phùng bỗng nhận ra rằng, để hiểu được sự thật của đời sống không chỉ nhìn nhận, đánh giá bên ngoài mà cần nhìn sâu vào bản chất của cuộc sống ấy, người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa diện mà không thể nhìn như “chiếc thuyền ngoài xa”.

Không chỉ nhận thức về nghệ thuật, mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời mà câu chuyện của người đàn bà còn mang đến bước ngoặt về nhận thức về con người và xã hội của Phùng. Đằng sau dáng vẻ cam chịu một cách vô lý đáng trách lại là một người đàn bà hiểu biết, đáng thương. Dù bị đánh đập nhưng người đàn bà ấy quyết không chịu bỏ chồng vì có lý do riêng của mình, chị ta muốn những đứa con có một gia đình hoàn chỉnh, được ăn no. Người đàn bà ấy cũng hiểu về người chồng của mình, rằng sự tàn nhẫn hiện tại không phải là bản chất mà do người đàn ông ấy quá khổ.

Để giải quyết những vấn đề của cuộc sống không chỉ dựa vào thiện chí, tấm lòng, pháp luật mà còn cần sự thấu hiểu về cuộc sống và có giải pháp thiết thực, bởi điều người đàn bà mong muốn ở đây không phải sự giải thoát khỏi người chồng vũ phu mà là một giải pháp để cuộc sống đỡ nghèo khổ, khốn khó.

Như vậy, tình huống truyện của Chiếc thuyền ngoài xa không chỉ là phát hiện mang tính khám phá của Phùng mà còn là tình huống nghệ thuật đặc sắc được dựng lên để thể hiện những quan điểm, triết lí nhân sinh sâu sắc của Nguyễn Minh Châu.

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi – Bài mẫu 3

Nguyễn Minh Châu quê ở Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trước năm 1975, với những tác phẩm như Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1975),… ông đã đem đến cho bạn đọc một bức tranh rộng lớn về chiến tranh. Ông như hòa được không khí chung của đất nước những năm tháng sôi động, ngòi bút của nhà văn trở nên linh hoạt, gợi được không khí của dân tộc trong những giai đoạn lịch sử vẻ vang của dân tộc. Thời kì sau năm 1975, sáng tác của ông phong phú và đa dạng về thể loại lẫn số lượng và chất lượng, ông được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Đặc biệt, Nguyễn Minh Châu từ đề tài chiến tranh đã dần chuyển sang tính chất triết luận và rất quan tâm tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được viết tháng 3 – 1983, in trong tập truyện cùng tên xuất bản năm 1983. Tác phẩm in đậm phong cách của Nguyễn Minh Cháu: tự sự – triết lí nhân sinh. Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng một tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.

Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là chiến trường cũ mà anh từng tham gia chiến đấu. Anh đã dự tính bố cục, phục kích mấy buổi sáng. Cuối cùng thì giây phút ấy đã tới, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẻ đẹp trời cho trên.mặt biển sớm mờ sương, một cảnh đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ bắt gặp được một lần. Nó đẹp như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ và từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thật đơn giản và toàn bích. Cảnh đẹp đó đã khiến trái tim anh bối rối, rung động, hạnh phúc tràn ngập tột đỉnh, vẻ đẹp của hóa công đã giúp anh khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện và bản thân cái đẹp chính là đạo đức. Cái đẹp toàn thiện, toàn mĩ đó có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người, khiến anh cảm thấy mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi hơn. Trong lúc tâm hồn anh đang bay bổng với những cảm xúc thẩm mĩ tột đỉnh thì cũng là lúc anh chứng kiến từ chiếc thuyền đẹp như mơ ấy lại bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và người đàn ông to lớn, dữ dằn cùng cảnh tượng lão đang đánh đập vợ một cách thô bạo, tàn nhẫn kèm theo những lời chửi rủa phũ phàng. Đứa con trai vì muốn bênh vực mẹ nên đã giằng chiếc thắt lưng từ tay cha rồi cuối cùng nhận lấy hai cái tát của cha,… Chứng kiến cảnh đó Phùng đã hết sức kinh ngạc, ngỡ ngàng đến hụt hẫng. Anh như không tin vào mắt mình, dường như tạo hóa đã tạo ra một trò đùa quái ác. Ba ngày sau, anh lại tiếp tục chứng kiến cảnh tương tự và lần này người chị gái đã tước đoạt con dao găm từ tay thằng Phác, không để nó làm việc dại dột. Nếu lúc trước Phùng còn cảm thấy bản thân cái đẹp là đạo đức thì bây giờ chẳng còn gì là đạo đức, là toàn thiện toàn mĩ. Qua đây, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm một triết lí: cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa còn chiếc thuyền cuộc đời lại ở rất gần. Người nghệ sĩ đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời, trước khi biết rung động trước cái đẹp nghệ thuật thì hãy biết rung động trước nỗi đau của con người vì nghệ thuật chân chính là nghệ thuật phục vụ con người, phục vụ cuộc đời.

Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Gánh nặng mưu sinh đè trĩu trên vai cặp vợ chồng: mỗi khi ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối và đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật,… Có lẽ, đây là nguyên nhân đã biến người chồng thành một kẻ vũ phu, độc ác. Mỗi khi lão thấy khổ quá là xách tôi ra đánh, ông ta muốn tìm nơi giải tỏa và trút bỏ sự bế tắc thì không đâu khác đó chính là người vợ: lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà. Trong đời vẫn có những kẻ như thế, nói như Nam Cao là chỉ để thỏa mãn lòng ích kỉ, chúng tự cho mình cái quyền được hành hạ mọi người. Lão đàn ông với mái tóc tổ quạ, chân chữ bát, hai con mắt đầy vẻ độc dữ vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của mình. Còn người vợ vì thương con nên nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng: không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn bởi vì bà coi đó là lẽ đương nhiên trong cuộc sống mưu sinh. Trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần phải có một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề và những đứa con cần được sống, được lớn lên. Nguồn gốc của sự chịu đựng, hi sinh của bà là tình thương vô bờ với những đứa con: đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi […] phải sống cho con chứ không thể cho mình. Mặc dù, bà đã hết. sức che chắn nhưng những đứa con vẫn biết được sự thực đau lòng ấy. Lúc đó, bà cảm thấy nhục nhã và xấu hổ vô cùng: ôm chầm lấy thằng Phác rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Hành động này là hành động của một người mẹ vô cùng đau đớn, xót xa. Bà đã không sao tránh được cho con khỏi bị tổn thương do bạo lực gia đình. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Thằng Phác thương mẹ theo kiểu của một đứa bé chưa đủ khôn lớn. Khi bị bố* tát ngã dúi xuống cát khi đã giằng được chiếc thắt lưng từ tay cha, nó lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt của mẹ nó. Thằng bé đã bảo vệ mẹ theo cách riêng của mình, điều đó đã làm cho người đọc cảm động trước tình thương mẹ dạt dào.

Tình huống truyện tiếp tục được đẩy lên cao trào và ngày càng xoáy sâu hơn nữa khi người đàn bà được Đẩu mời lên tòa án huyện. Là người thực thi pháp luật, Đẩu cũng cố gắng giúp con người vượt ra khỏi sự đau khổ: sau nhiều lần răn đe và giáo dục nhưng không thành công thì Đẩu đã khuyên người đàn bà li hôn và anh tin đó là một giải pháp đúng đắn, hợp lí vì cả nước không có một người chồng nào như hắn. Nhưng dù có nói gì đi chăng nữa thì người đàn bà vẫn kiên quyết không chịu bỏ người chồng vũ phu vì các chú đâu phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc và chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông,… Hóa ra, với những người đàn bà vùng biển, người đàn ông là chỗ dựa duy nhất, quan trọng nhất của họ để chèo chống khi phong ba, dù đó* là người đàn ông độc ác, tàn bạo. Sau khi nghe lời giãi bày của người đàn bà lam lũ, chất phác ấy thì trong đầu anh như vừa có một cái gì đó vỡ ra. Có lẽ, Đẩu cũng ngộ ra rằng trong cuộc chiến chống đói nghèo, đau khổ thì cần phải có những biện pháp tích cực chứ không phải là những thiện chí xa rời thực tế. Đôi khi cuộc chiến đó còn gian nan hơn cả cuộc chiến chống giặc ngoại xâm.

Đây là một tình huống độc đáo, mang ý nghĩa khám phá và phát hiện về sự thật đời sống. Ở tình huống truyện này, cái nhìn và cảm nhận của nghệ sĩ Phùng, chánh án Đẩu là sự khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống và con người. Sau mấy ngày phục kích vất vả, Phùng đã chụp được một bức ảnh trời cho, nó đẹp với một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích. Anh tưởng như khám phá được chân lí của sự toàn thiện và anh cảm thấy thăng hoa nhưng rồi chính anh cũng bất ngờ nhận ra sự trật khớp giữa cái đẹp của ngoại cảnh với số phận cực nhọc, tăm tối của con người sống ngay giữa vẻ đẹp đó. Khi được mời lên tòa án huyện, sau khi được nghe những lời giãi bày của người đàn bà thì Đẩu đã vỡ lẽ ra một nghịch lí của cuộc sống: chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông. Đẩu hiểu ra được nguyên nhân người đàn bà không thể bỏ chồng là vì những đứa con. Hai người đã ngộ ra những nghịch lí của cuộc đời, những điều tưởng là vô lí nhưng lại rất có lí. Không thể nhìn sự vật, hiện tượng một cách đơn giản, xuôi chiều mà phải nhìn từ nhiều chiều hướng, phát hiện ra bản chất thật sự đằng sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng. Và muốn giúp họ thoát khỏi cảnh sống khổ đau, tăm tối thì cần phải có những biện pháp thiết thực chứ không chỉ có lòng tốt và lí thuyết sách vở. Có thể nói, truyện được xây dựng trong một tình huống khá đặc biệt, trong sự vỡ lẽ của người phóng viên là vị thẩm phán. Phùng như thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa còn sự thật cuộc đời lại ở rất gần. Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện giúp anh hiểu rõ hơn cái có lí tưởng chừng như nghịch lí ở gia đình thuyền chài. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài ấy, hiểu sâu thêm tính cách của Đẩu và hiểu thêm chính mình.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống, một tình huống nhận thức. Tình huống truyện này đã nhấn mạnh thêm mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật và cuộc đời, khẳng định cái nhìn đa diện, nhiều chiều về đời sống, gợi mở những vấn đề mới cho sáng tạo nghệ thuật. Dường như nhà văn muốn kéo hiện thực cuộc sống từ xa lại thật gần để nhìn nhận, đánh giá một cách rõ nét hơn, từ đó mà khám phá ra những bất ngờ thú vị – đó là những hạt ngọc ẩn khuất sau vẻ đẹp lam lũ, khổ đau, khó nhọc của con người.

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi – Bài mẫu 4

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “Tình huống là cái khoảnh khắc chứa cả một đời người, một đời nhân loại”. Trong Chiếc thuyền ngoài xa đó là tình huống nhận thức bởi nó hướng tới bộc lộ sự nhận thức của nhà văn về cuộc dời và nghệ thuật. Đó là tình huống mà nhân vật Phùng trải qua hai phát hiện độc đáo: Anh phát hiện ra sự tàn nhẫn của cuộc đời khi chứng kiến cảnh bạo hành trong một gia đình thuyền chài. Đến tòa án huyện; nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài anh lại phát hiện ra vẻ đẹp của chị và nhận thức về bản chất con người, về sự phức tạp của đời sống.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng luôn thiết tha săn tìm cái đẹp, biết rung mạnh mẽ trước vẻ đẹp kì diệu có thực của cuộc đời. Nguyễn Minh Châu miêu tả bối cảnh câu chuyện không phải là mảnh đất hoành tráng của chiến trường xưa, cũng không phải những người chiến sĩ kiên trung vì lịch sử vốn là đề tài “nóng” của văn học bấy giờ. Phùng là một người lính năm xưa, giờ là phóng viên ảnh, ,đi “săn” một tấm hình chụp cảnh bình minh trên biển. Và như một cơ duyên, Phùng đã bắt gặp một cảnh đất trời cho khi bắt gặp một chiếc thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào… Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Có những người nghệ sĩ dành cả đời để tìm kiếm cái đẹp mà không thấy, Phùng lại có cái may mắn khi gặp được khoảnh khắc đó. Nghệ thuật với Phùng là sự đơn giản, hài hòa mà toàn bích, nó có thể khiến con người quên đi những phiền não của cuộc sống. Phùng tưởng tượng ra cuộc sống tươi đẹp, dáng yêu, khỏe khoắn của những người dân chài vùng biển từ khoảnh khắc mà anh bắt gặp đó. Giây phút nhìn thấy chiếc thuyền ngư phủ như trong mơ đó cũng là lúc Phùng chạm vào nghệ thuật, nó khiến anh xúc động: “trong giây phút bối rối ấy, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Cái đẹp chính là thiên nhiên và cái đẹp có khả năng thanh lọc tâm hồn con người, cái đẹp chính là đạo đức. Phùng hân hoan trong niềm vui sướng ngập tràn về sự tận thiện, tận mĩ của cái đẹp trong cuộc sống.

Vừa ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu của cuộc đời, người nghệ sĩ này lại đã kinh ngạc khi nhận thấy bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy là 1 người đàn bà xấu xí, lam lũ mệt mỏi, một người đàn ông cục cằn, và càng kinh ngạc hơn khi chứng kiến cảnh gã đàn ông đánh vợ một cách tàn nhẫn, vũ phu, còn người đàn bà cam chịu nhẫn nhục. Sau giây phút kinh ngạc “đứng há mồm ra mà nhìn”, Phùng đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất và chạy nhào tới”. Trong giây phút ngỡ ngàng, kinh ngạc, nghệ sĩ Phừng như đã nhận ra, cái đẹp của cuộc sống không phải là hoàn thiện toàn mĩ, và cái đẹp không phải bao giờ cũng là đạo đức.

Lần thứ hai chứng kiến, Phùng trở thành người hùng, anh đánh quật gã đàn ông vũ phu bằng cú đánh của người “không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh…”. Phùng nhân danh một người lính – những người đã đổ máu để giành lại bình yên cho đồng bào mình chăng hay hành động tấn công gã đàn ông khiến anh ngộ nhận mình là anh hùng? Trong phút chốc, Phùng xót xa nhận ra cái xấu, cái ác, cái bi kịch trong gia đình hàng chài kia giống như một câu chuyện cổ quái đản và chiếc thuyền vó thơ mộng kia phút chốc cũng biến mất. Cái phát hiện thứ hai của Phùng xuất phát từ câu chuyện của người đàn bà hàng chài: “Quý toà đừng bắt con phải bỏ nó”, “lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được việc làm ăn của các người lam lũ, khó nhọc”, “Các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết được như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông. Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được”. Họ không thể hiểu tại sao hai con người nhỏ bé kia lại chấp nhận sống và hy sinh đến như vậy. Dần dần họ đã hiểu được những nguyên cớ sâu xa hơn “vả lại ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi vui vẻ”. Nó khiến Phùng vỡ lẽ được sự khắc nghiệt của cuộc sống khi nhận ra rằng trong cuộc đời, để có thể tồn tại và mưu sinh, có những nghịch lí mà người ta buộc phải chấp nhận. Người đàn bà nhẫn nhục cam chịu vì những đứa con và những khoảnh khắc hạnh phúc gia đình, người đàn ông độc ác vì cuộc sống mưu sinh khó khăn mà đánh vợ như một cách giải tỏa những ẩn ức, một đứa con vì bảo vệ mẹ mà lao vào đánh cả bố. Cái tận thiện, tận mĩ chẳng phải là đạo đức, là chân lý mà người nghệ sĩ vẫn ôm ấp. Cái đẹp, cái thiện lại luôn tiềm ẩn cái xấu, cái ác, hạnh phúc luôn tiềm ẩn những bất hạnh. Phùng đã hiểu được cái đa sự của cuộc sống mà đôi khi, con người ta phải chấp nhận.

Những gì đã diễn ra ở cái phố huyện vùng biển ấy đã giúp Phùng có cách nhìn nhận đánh giá con người và cuộc sống một cách sâu sắc hơn. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh này cũng có nhiều nhận thức mới mẻ về “Chiếc thuyền ngoài xa”. Vẫn là chiếc thuyền ấy, vẫn được cảm nhận từ khoảng cách “ngoài xa”, nghệ sĩ Phùng đã thấy nó không còn bình yên, thi vị thơ mộng nữa, mà là con thuyền của vật lộn chống chọi với phong ba của biển cả, với sóng gió của cuộc đời để tồn tại và mưu sinh. Ngay cả bức ảnh chụp “Chiếc thuyền ngoài xa” trong sương sớm đẹp như mơ, cũng được Phùng cảm nhận với nhiều ý nghĩa mới mẻ. “Cái màu hồng hồng” mà Phùng cứ thấy ngời lên ở bức ảnh đen trắng ấy chính là hiện thân cho vẻ đẹp kì diệu của cuộc sống, cũng là vẻ đẹp mà nghệ thuật đã nắm bắt và thể hiện được, như màn sương, làm “mờ hóa” khả năng tri nhân ở chúng ta. Còn hình ảnh người đàn bà xấu xí, lam lũ, nghèo khổ, mệt mỏi như đang bước ra từ tấm ảnh chính là hiện thân cho cái lam lũ khó nhọc, cho cái uẩn khúc của cuộc đời.

Tình huống trong truyện tạo bước ngoặt trong nhận thức, Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và sáng tạo một vẻ đẹp toàn thiện nhưng sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp ấy làm che khuất và quên đi những bất hạnh trong đời. Cái đẹp không chỉ là đạo đức, nó là sự thức tỉnh. Với Nguyễn Minh Châu, nghệ thuật chân chính phải phục vụ con người, phải nắm bắt được mọi uẩn khúc trong cuộc sống và người nghệ sĩ chân chính phải biết rung động trước mọi lẽ đời. Nhà văn cũng đưa ra một thông điệp: không thể nhìn cuộc sống một cách giản đơn, không thể đánh giá con người ở vẻ bề ngoài, phải có cái nhìn thấu đáo về con người để đánh giá đúng không suy xét một phía… từ đó phát hiện vẻ đẹp tâm hồn ẩn chứa sau vẻ ngoài lam lũ thô kệch của người đàn bà hàng chài.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống. Qua đó ta thấy được những tìm tòi, đổi mới của Nguyễn Minh Châu trên con đường đổi mới nghệ thuật.

Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi – Bài mẫu 5

Sự thành công của một truyện ngắn hay một cuốn tiểu thuyết phần lớn do nghệ thuật tạo ra tình huống truyện của tác giả. Sự thành công của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn “Chiếc truyền ngoài xa” cũng không ngoài điều đó. Vậy muốn phân tích nghệ thuật tạo nên tình huống truyện trong truyện ngắn này trước tiên phải hiểu tình huống truyện là gì? Tình huống truyện là hoàn cảnh riêng (thời gian, không gian; sự việc diễn ra trong thời gian, không gian đó …) được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ rõ nét nhất. Đối với truyện ngắn, tình huống giữ một vai trò rất quan trọng của truyện, là hạt nhân của cấu trúc thể loại.

Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật, tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Tình huống trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu thuộc loại tình huống nhận thức.

Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình huống truyện hết sức độc đáo: Anh phóng viên Phùng đang làm công việc đi săn ảnh nghệ thuật và phong cảnh để làm lịch. Một buổi sáng sớm anh đi trên bãi hiển, anh bỗng phát hiện ra một bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên, đó hình ảnh một chiếc thuyền ngoài xa thấp thoáng trong màng sương sớm, lúc ẩn lúc hiện. Cảnh vật hiện lên trước mặt anh phóng viên Phùng là “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe ..” bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào “toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích” đã khiến Phùng bối rối và trong trái tim Phùng “như có gì bóp thắt vào”, và trong cái giây phút bối rối ấy Phùng “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái không khí trong ngần của tâm hồn”. Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đã mang lại “khoảnh khắc hạnh phúc tràm ngập tâm hồn Phùng” và Phùng đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào trong ống kính của mình.

Thế nhưng, khi chiếc thuyền vào tới bờ thì một sự thật trần trụi phơi bày trước Phùng, một sự thực bi thương, đó là hình ảnh những con người lao động nghèo khổ, xơ xác, như không hề có chút niềm vui, hạnh phúc nào cả. Phùng nghe tiếng anh hàng chài quát vợ “Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tạo giết cả mày đi bây giờ” rồi nhìn cảnh anh hàng chài “mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa… quật tới tấp vào lưng người đàn bà, hắn vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” trong khi đó thì người đàn bà nhẫn nhục cam chịu tất cả những sự việc ấy diễn ra làm cho Phùng “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn…”. Điều làm cho Phùng càng kinh ngạc sững sờ hơn khi nhìn cảnh thằng Phác lao vun vút đến chỗ bố nó, giằng lấy cái thắt lưng trong tay bố nó “liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vờ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên” của bố nó để bảo vệ mẹ nó. Tình huống truyện này đã đưa ra những vấn đề đầy nghịch lí, nghịch lí giữa cái đẹp của nghệ thuật với sự trần trụi, bi đát của cuộc sống hiện thực. Nghịch lí giữa người vợ tốt bị hành hạ nhưng vẫn không bỏ chồng, nghịch lí giữa sự vũ phu tàn bạo của anh hàng chài với vợ nhưng không bỏ vợ. Với tình huống của truyện, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đặt ra một vấn đề rất quan trọng để người đọc suy nghĩ, đó là mối quan hệ giữa văn chương, nghệ thuật với cuộc sống. Nghệ thuật là một cái gì xa vời như chiếc thuyền ngoài xa trong màng sương sớm mờ ảo, còn cuộc sống thì rất cần như con thuyền khi đã vào tới bờ. Hay nói một cách khác, Nguyễn Minh Châu cho rằng nghệ thuật trước hết phải gắn liền với cuộc sống, phải phản ánh chân thật cuộc sống và góp phần cải tạo cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Quan điểm này của Nguyễn Minh Châu rất gần với quan điểm của nhà văn Nam Cao “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…” (Trăng sáng).

Một tình huống truyện khá độc đáo nữa mà Nguyễn Minh Châu đã tạo ra trong truyện ngắn này đó là khi người đàn bà được Đẩu (Bao Công của cái chuyện ven biển này) mời đến huyện để khuyên người đàn bà li hôn với chồng. Sau khi dùng các biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không có kết quả, Đẩu với tư cách là thẩm phán huyện – đã khuyên người vợ nên li hôn với chồng để khỏi bị hành hạ, ngược đãi, để sống một cuộc sống cho ra con người. Đẩu tin giải pháp của mình là hợp lí, đúng đắn, thể hiện lòng tốt của mình. Nhưng sau buổi nói chuyện với người đàn bà thì mọi lí lẽ, mọi suy nghĩ của anh đều bị người đàn bà chất phác, lam lũ từ chối, không chấp nhận. Người đàn ấy đã nhìn thấu suốt cả cuộc đời mình, những điều mà Đẩu và cả Phùng chưa bao giờ nhìn thấy được: “lòng chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có thể hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhục…”, “là bởi các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…”, “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!”.

Những lời lẽ của người đàn bà khiến “Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện miền biển”. Đẩu chợt nhận ra rằng lòng tốt của anh hóa ra phi thực tế. Anh bảo vệ luật pháp bằng sự thông hiểu sách vở nhưng trước thực tế đa dạng, muôn nỗi, anh trở thành kẻ ngây thơ.

Những lời lẽ của người đàn bà đã giúp Đẩu nhận ra những nghịch lí của đời sống – những nghịch lí buộc con người phải chấp nhận một cách chua chát “trên thuyền phải có một người đàn ông dù hắn man rợ, tàn bạo”. Từ đây, Đẩu có thể đã bắt đầu hiểu ra rằng muốn con người thoát ra khỏi cảnh đau khổ, tăm tối, man rợ cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là lòng tốt, thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ nhưng xa rời thực tế.

Tình huống này cùng với tình huống trên của truyện, Phùng đã nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống không thể nhìn một cách đơn giản, phải đi sâu vào thực tế cuộc sống để hiểu được thực tế cuộc sống, những nghịch lí nhưng cổ lí của cuộc sống.

Tóm lại, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo nên những tình huống truyện khá độc đáo, tạo cho người đọc sự suy nghĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống và đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng của xã hội là khi nhìn cuộc sống chúng ta phải có cái nhìn đa chiều, chúng ta mới hiểu cuộc sống sâu sắc hơn. Nếu nhìn cuộc sống một cách hời hợt, theo cảm tính, theo sách vở… thì chúng ta chưa thể hiểu hết được những nghịch lí nhưng có lí của thực tế cuộc sống.

—/—

Như vậy THPT Trịnh Hoài Đức đã trình bày xong bài văn mẫu Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa học sinh giỏi. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết