• Trang chủ
  • Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
storage/uploads/phan-tich-nhan-vat-chi-pheo-sau-khi-gap-thi-no_1

Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở – Mẫu số 1

Nam Cao là nhà văn chủ nghĩa hiện thực của văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945. Tác phẩm kiệt tác để lại tên tuổi của ông là “Chí Phèo” phản ánh nỗi thống khổ, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ. Nhân vật cùng tên truyện để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Chí sau khi gặp thị Nở – quãng thời gian hồi sinh ngắn ngủi nhưng giàu giá trị nhân đạo mà nhà văn dành cho nhân vật của mình.

Chí Phèo bản chất vốn là một người hiền lành, chất phác nhưng vô tình bị xã hội đẩy đến mức đường cùng, đại diện cho cường quyền ấy là Bá Kiến vì ghen với Chí được bà Ba “quý mến” mà tìm mọi cách cho hắn đi ở tù. Bảy tám năm đi biệt khi quay trở về làng Vũ Đại Chí là một kẻ mất nhân hình lẫn nhân tính để cho thế lực hắc ám như cụ Bá hoàn thành nốt công đoạn biến thành con quỷ dữ mà mọi người đều ghê sợ và xa lánh, Chí trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến kể từ đó hắn chỉ chuyên hành nghề rạch mặt ăn vạ, cướp của giết người. Cuộc đời hắn chìm trong men say hết ngày này qua ngày khác chưa bao giờ hắn tỉnh để biết mình còn tồn tại có mặt ở trên đời.

Nam Cao không nhẫn tâm để nhân vật của mình sống mãi là kiếp thú vật nên đã cho thị Nở xuất hiện cùng bát cháo hành tình người và tình cảm chân thành đánh thức lương tri Chí sau những ngày bị vùi lấp. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp thị Nở chứng tỏ tài năng khám phá và phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao.

Hôm ấy, sau trận nôn mửa lúc nửa đêm khi đã ngủ cùng thị Chí Phèo tỉnh dậy sau một cơn say rất dài “hắn thấy miệng đắng, lòng buồn mơ hồ”. Lần đầu tiên kể từ ngày trở về hắn nghĩ đến rượu mới cảm thấy rùng mình “hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”. Hắn cảm nhận được âm thanh của cuộc sống “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”… Những âm thanh ấy ngày nào cũng có nhưng đây là lần đầu tiên Chí tỉnh để nghe thấy và cảm nhận tiếng gọi tha thiết của sự sống.

Chí nhận thức được bản thân mình về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tiếng bàn tán của người bán hàng gợi nhớ về quá khứ tươi đẹp của Chí từng ước mơ về một gia đình nho nhỏ “Chồng cuốc mướn, cày thuê vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Đó là ước mơ, là khao khát của anh canh điền hiền lành chất phác. Nhưng éo le thay điều đó không thành hiện thực để rồi giờ đây trong hiện tại “hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc”, “hắn đã tới cái dốc bên kia của đời”, cơ thể đã hư hỏng ít nhiều. Chí phèo cũng đã nghĩ về tương lai và “trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Sau những ngày sống như vô thức qua một trận ốm Chí đã tỉnh dậy và suy nghĩ về cuộc đời mình. Như vậy với khả năng nhận nhức về ngoại cảnh và nhận thức về chính mình Chí đã tỉnh dậy và hồi sinh trở về với kiếp người.

Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành và tình thương yêu dành cho Chí khiến hắn vô cùng ngạc nhiên, xúc động và trỗi dậy mong muốn được làm người lương thiện. Đây là đoạn văn mang nhiều giá trị nhân đạo nhất mà nhà văn dành cho nhân vật của mình. Trưa hôm ấy Chí được săn sóc bởi đôi bàn tay của thị. “Hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho.” Bởi xưa nay hắn toàn phải cướp giật hoặc dọa nạt chứ nào ai cho không hắn cái gì ấy vậy mà thị lại giàu tình thương, sự cảm thông chia sẻ và quan tâm để làm điều đó cho hắn. Hắn cảm động vô cùng. Giọt nước mắt hạnh phúc được trở lại làm người đã chảy ra, hắn đã thực sự cảm nhận được mùi vị của tình người. Thị chính là hiện thân của tình người với bát cháo hành là liều thuốc giải độc cho cơn sốt bất thường và chữa lành vết thương tâm hồn bị sứt mẻ, bị bóp méo bấy lâu của Chí. Hắn đối với thị hiền lành biết bao “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người?” Giờ đây hắn khao khát được làm người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được.” Nhà văn đã cho ta thấy khao khát hoàn lương một cách khẩn thiết và rõ rệt trong con người Chí, hắn đã đặt tất cả hy vọng và niềm tin vào thị Nở.Thị chính là cầu nối để Chí hòa nhập với mọi người và trở về với xã hội của những tấm lòng lương thiện. Chí muốn quay lại làm một người bình thường sống cuộc sống bình dị như trước đây chấm dứt những tháng ngày đen tối và tội lỗi.

Cũng như bao người khác khi nhận thức được giá trị của bản thân Chí khao khát có một hạnh phúc gia đình “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?” đây là một lời gợi ý cho một cuộc sống mới cũng là một lời tỏ tình rất bình dị với sự bẽn lẽn của một anh canh điền hiền lành chất phác. Trong con mắt của kẻ say tình những điều xấu xí nhất của người đàn bà xấu xí như thị đối với Chí lại trở nên đáng yêu và có duyên “Xấu mà e lệ thì cũng đáng yêu”. Nam Cao để cho con mắt của một kẻ lưu manh tha thóa biến thành con quỷ dữ nay trở lại làm người lại nhìn thấy vẻ đẹp tiềm ẩn trong thị bị xã hội vùi lấp không nhìn thấy. Người đàn bà ấy tuy vẻ bên ngoài “Xấu ma chê quỷ hờn” bởi dòng giống con nhà mả hủi lại có tấm lòng nhân hậu và tình thương ngập tràn dành cho Chí. Năm ngày bên nhau của đôi lứa ngắn ngủi trôi qua trong những phút giây hạnh phúc, Chí trong khoảng thời gian ấy được sống là chính mình. “Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo để yêu nhau.” Chí đã ý thức được rằng mình có gia đình và cần phải chăm lo cho điều ấy. Đáng tiếc thay thị lại là một người dở hơi đem câu chuyện tình về hỏi ý kiến của bà cô già gây ra bi kịch bị cự tuyệt làm người cho Chí bởi định kiến xã hội.

Như vậy tâm trạng nhân vật chí Phèo sau ki gặp thị Nở đã được nhà văn miêu tả chi tiết tỉ mỉ đi sâu vào ngóc ngách trong tâm hồn để khám phá ra những điều mới mẻ trong nhân vật. Nhưng giá trị nổi bật nhất của Nam Cao làm nên thành công của tác phẩm là ở chỗ: “Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay trong khi họ đã bị xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính”.

Nam Cao đã khéo lột tả nội tâm nhân vật Chí Phèo trong những ngày hồi sinh khi gặp thị Nở với cách sử dụng ngôn ngữ sinh động, giản dị nồng ấm hơi thở đời sống thường ngày của người nông dân để lại giá trị nhân đạo cao đẹp sống mãi với thời gian. Bản chất lương thiện và khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp của con người không bao giờ bị mất đi dù cho bị quỷ dữ tha mất linh hồn nhưng chỉ cần được thắp sáng bởi ngọn lửa tình người nó lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Qua đó cũng cho ta bài học nhận thức rằng chỉ có tình thương mới cảm hóa được trái tim sắt đá, cô độc và mỗi chúng ta sống trong cộng đồng người hãy biết yêu thương, chia sẻ cảm thông cho nhau bởi “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương”.

Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở – Mẫu số 2

Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người. Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đày đọc vào cảnh nghèo đói cùng đường” (Nguyễn Đăng Mạnh). Với tấm lòng nhân đạo ấy, Nam cao đã khước từ thứ văn chương lãng mạn đế đến với dòng văn học hiện thực. Đây cũng chính là nơi Nam Cao đã kí thác toàn bộ những tâm tư tình cảm, triết lí nhân sinh của mình về cuộc đời, con người. Hàng loạt các tác phẩm đã ra đời nhằm “minh oan”, “chiêu tuyết” cho những con người bị miệt thị một cách bất công: Chí phèo, Một bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ… Trong đó Chí Phèo là một tác phẩm tiêu biểu nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, viết về đề tài người nông dân nghèo và đánh dấu một bước phát triển đáng kế của văn xuôi Việt Nam. Có thể nói nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm là một điển hình nghệ thuật về người nông dân nghèo từ lương thiện sa vào tha hóa rồi lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người nhưng luôn cố vẫy vùng để đến với ánh sáng của thiên lương. Chi tiết để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc đó chính là mối tình giữa Chí Phèo và thị Nở. Mối tình có một không hai trong làng văn Việt Nam khiến ta phải đọc rồi suy ngẫm rất nhiều về tình người trong cõi nhân thế.

Chí Phèo tự lúc nào đã đi vào trang văn Nam Cao và rồi lại từ trang văn Nam Cao bước ra. Nhân vật điển hình đến mức gấp sách lại ta vẫn thây day dứt về một anh Chí vốn hiền lành lương thiện thế nhưng do sự áp bức ghê gớm cùa bọn chúa đất, thực dân đã khiến anh trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Tưởng chừng Chí Phèo đã bị tha hóa hoàn toàn với một tâm hồn chai đá, những hành động mất lí trí, bị hủy hoại cả về nhân tính lẫn nhân hình, bản chất lương thiện bị che lấp. Nhưng trong trái tim anh vẫn len lỏi một thứ ánh sáng nhiệm mầu, đó chính là ánh sáng của lương tri. Nam Cao là thế đó. Ông không bao giờ để nhân vật của mình chìm trong bóng tối mà luôn để nhân vật trượt trên mặt phẳng nghiêng”, luôn cố vùng vẫy để thoát khỏi cái thế giới của con thú trở về với thế giới con người. Ranh giới ấy rất mong manh và vô cùng khó khăn. Liệu Chí có thể thực hiện được không? Ai sẽ là người giúp anh làm được điều này? Thị Nở ?Chính thị Nở là người hé mở cánh cửa để Chí trở về với ánh sáng của lương tri. Đọc đoạn văn này người đọc vô cùng sảng khoái trước nghệ thuật phân tích nội tâm tâm lí nhân vật rất tinh tế của Nam Cao.

Nhưng cái hay của Nam Cao không chỉ là những đoạn văn phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo mà còn là Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật hết sức ấn tượng – thị Nở một người ngấn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn nhưng lại có một sức hút, sức hút của tình người đã kéo Chí về với ánh sáng nhân tâm. Nếu ta vẽ một chân dung thj Nở riêng biệt chắc ta phải hoảng hốt bỏ chạy vì cái “dung nhan” ấy. Nhưng nếu ta vẽ hình ảnh của thị với nồi cháo hành nghi ngút khói trên tay đem đến cho Chí khi hắn đang đói cào ruột bởi “trận thổ đêm qua”, khi hắn đang buồn bã cô đơn nhất, đang “thèm khát người” nhất, đang đau khổ tuyệt vọng nhất… thì hình ảnh ấy rung động người đọc biết bao! Đó là sự rung động của nhân tâm rất tự nhiên, rất vô tư không hề “sợ hãi” như những người dân khác ở làng Vũ Đại mỗi khi gặp Chí và cũng không hề tính toán thiệt hơn. Thị không biết tính toán và cũng chẳng cần tính toán. Cái nghĩa tình có ai tính toán bao giờ. Tình cảm của thị thô mộc, nguyên sơ khiến ta cảm động quá!

Chính Nam Cao cũng không thể kìm lòng trước vẻ đẹp ấy. Nên ở trang văn này, ta bắt gặp những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên rất đỗi thơ mộng. Đó là những ánh sáng dịu hiền của trăng, trăng in cái bóng dáng xệch xạc, méo mó của Chí Phèo trên đường làng, trăng trên vườn chuối, hình ảnh cả hai ngủ say dưới trăng… Và trong khung cảnh ấy ông đã ghép một đôi tâm sự rất xứng đôi: Chí Phèo – thị Nở. Đương nhiên hai con người ấy có ngôn ngữ tâm sự riêng của họ, ta không bàn đến mà chi biết rằng: từ sau cái đêm trăng thanh gặp thị, Chí Phèo đã nhận thầy một thứ thèm khát (không phải thèm rượu) đang sôi sục lên trong anh đó chính là sự mong muốn làm người. Niềm mong muốn ấy được Nam Cao miêu tả một cách tỉ mỉ, tinh tế những thay đổi rất tinh vi từ trong từng tế bào của Chí.

Điều đầu tiên nhà văn để cho Chí nhận ra thực tại của mình qua hình ánh cái túp lều. Đó là cái túp lều ngoài bờ sông (thuộc đất lưu không) mà anh đã phải đánh đổi bằng máu, bằng lương tri, làm tay sai cho bá Kiến mà có được ấy. Một cái túp lều ẩm thấp, tối tăm: “Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Đây không phải nơi ở của con người, nó là địa ngục trần gian mà Chí đang chết dần chết mòn trong đó. Vậy mà chưa bao giờ Chí Phèo nhận thay thế bởi Chí Phèo chưa bao giờ hết say. Đây là lần đâu tiên Chí nhận ra cái hiện thực cay đắng phũ phàng ấy.

Tiếp đó, nhà văn để cho Chí Phèo cảm nhận được những thanh âm của cuộc sống: tiếng chim ríu rít, tiếng trò chuyện của các người buôn hàng, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quen thuộc đó ngày nào chả có. Nhưng đã bảy, tám năm trời nay, từ khi ra khỏi tù, lúc nào Chí cũng chìm trong cơn say thì làm sao Chí nghe được. Cuộc đời của anh là những cơn say dài mênh mông, vô tận, “tràn từ cơn say này sang cơn say khác…” đến mức “…Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say…Hắn làm tấtcả trong lúc người hắn say…”. Thế đấy, đã bao giờ hắn tình để mà nghe những thanh âm của cuộc sống thường nhật chứ. Đây là lần đầu tiên sau một giấc ngủ dài Chí nghe thấy những thanh âm ấy. Những thanh âm của cuộc sống giản dị đã thức kéo thiên lương trong anh, lòng anh bỗng mơ hổ buồn. Chao ôi buồn rồi lại nao nao buồn! Cái buồn đó cứ như một cơn gió lúc thì ổ ạt lúc thì nhẹ nhàng. Bằng bút pháp phân tích nội tâm sâu sắc, tinh tế, Nam Cao đã mô tả quá trình thức tỉnh lương tri của Chí Phèo theo trình tự logic biện chứng.

Nhận ra được thực tại, đón nhận được giọt âm thanh của cuộc đời, nhà văn để cho Chí nhớ về quá khứ “hình như có một thời hắn đã ao ước có một gừ đình nho nhỏ, . chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Cái ước mơ chân chính, nhỏ nhoi nhưng sao lại quá khó đối với Chí. Rồi Chí nhìn về hiện tại và tương lai “Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi già của hắn; đói rét, ốm đau và cô độc Chí sợ cô độc nhất. Khi đã sợ cô đơn là lúc con người ta cô đơn nhất và khao khát sự sum vầy. Nhưng Chí vốn là con hoang, không gia đình, không nhà cửa, không họ hàng thân thích. Hắn lại là con quỷ dữ trong mắt người dân ở làng Vũ Đại, không ai chấp nhận hắn chứ đừng nói đến chuyện sum vầy.

Và khi Chí đang nhìn về tương lai đen tối kia với tâm trạng cô độc, sợ hãi, cũng may là thị Nở đến nếu không thì Chí khóc mất. Thị Nở bước vào cùng với bát cháo hành, một hình tượng đẹp nhất, một chi tiết nghệ thuật đem đến nhiều mĩ cảm. Chí Phèo ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì mắt Chí ươn ướt. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên Chí được một người đàn bà cho ăn, bởi vì xưa nay Chí vẫn phải “dọa nạt hay giật cướp” của người khác thì mới có được. Nhưng thứ thị ho Chí không đơn giản chì là bát cháo hành mà còn là một tình yêu thương mộc mạc , là sáng soi rọi vào sâu thẳm tâm hổn Chí làm bừng lên chất người trong anh, làm cho anh khát khao trở về lương thiện, “thèm làm hòa với mọi người”. Nhìn bát cháo hành bốc khói, nhìn nụ cười tình tứ của thị, Chí vừa vui mà vừa buồn, ta thây được sự ăn năn và hạnh phúc từ trong nụ cười của Chí. Cầm bát cháo húp, mồ hôi đổ ra những giọt to như giọt nước nhưng Chí vẫn cười, vẫn đắm say trong niềm hạnh phúc mà bát cháo hành mang lại. Ôi! Nếu không có bát cháo hành kia liệu ta có thấy được nụ cười của Chí không hay chỉ thấy sự lưu manh hung tàn của một con quỷ dữ? Bát cháo hành là sức mạnh của tình yêu nồng thắm, là biểu tượng của tình người duy nhất ờ làng Vũ Đại. Nếu đặt trong mối tương quan với nhân vật bà Ba vợ bá Kiến – người đàn bà đẹp nhât làng nhưng lại là “con quỷ cái” (bà ta chỉ biết lợi dụng Chí, kêu Chí lên bóp chân, lúc ấy anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì), thì thị Nở rất đẹp. Vẻ đẹp của tình nghĩa nguyên sơ. Quả thật, thị Nở Thị Nở càng xấu, tác phẩm lại càng hay! Đó là một thành công tuyệt vời của Nam Cao khi ông đã xây dựng được một hình tượng Tất thú vị.

Trước sự chăm sóc của thị, lòng Chí bỗng trở nên trẻ con. Chí làm nũng với Thị như với mẹ vậy. Chí muốn làm người lương thiện “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao”. Đó là lời kệ, lời miêu tả nội tâm Nam Cao hay đó chính là tiếng lòng thẳm sâu của Chí? Chỉ có điều là nó bị vùi lấy bảy, tám năm trời nay. Hôm nay nó đã trở về. Chính thị Nở đã dánh thức lòng thèm khát lương tri của Chí. Nói cho cùng đây là sự kết duyên của hai tâm hồn đồng điệu. Tuy Thị Nở xấu xí nhưng tâm hồn lại đẹp. Chí Phèo đã bị tha hóa nhưng vẫn còn bản chất lương thiện của người nông dân. Và khi bản chất ấy sống dậy là khi Chí khao khát gia đình” Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Như thế này mãi nghĩa là Chí muốn có cuộc sống bình yên và hạnh phúc không chỉ riêng bên Thị Nở mà còn bên mọi người. Cái tình yêu của Thị và Chí nói đúng nghĩa hơn là vừa cho vừa nhận” Đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có lòng yêu của người chịu ơn”.Mối tình của Chí Phèo Thị Nở quả thực là”đôi lứa xứng đôi”. Nhưng dụng ý của Nam Cao không dừng lại ở đây. Nếu cứ để Chí và Thị sống hạnh phúc bên nhau thì đâu còn là hiện thực phê phán nữa. Mối tình định mệnh của Chí chỉ diễn ra chóng vánh trong năm ngày. Đó là năm ngàu hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Chí, là năm ngày Chí được sống trong sự chăm sóc bởi tay một người đàn bà. Và khi hắn đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời rồi, hắn mới cảm nhận được mùi thơm của cháo hành” trời ơi cháo mới thơm làm sao”Mùi vị cháo thơm hay đây lòa vị ngọt của cuộc đời ? Hay là tấm lòng săn sóc của Thị Nở? Hình ảnh thị Nở cũng trở nên đẹp đẽ từ việc chăm sóc Chí Phèo bằng bát cháo hành. Hình ảnh ấy gợi cho ta cái không khí đầm ấm của gia đình nông thôn xưa, thế nhưng họ lại vấp phải rào cản lớn nhất : ” Bà cô thị Nở”” Ai lại đi lấy thằng Chí Phèo” Bà đại diện cho định kiến khắt khe cổ hủ của xã hội phong kiến đã làm đầy tràn li bi kịch của Chí, đẩy Chí Phèo đến tận cùng của tuyệt vọng, cắt đứt cái cầu nối cuối cùng không cho Chí hòa nhạp với cộng đồng . Khi bị cự tuyệt, hắn bỗng nhiên ngẩn người, Hắn sửng sốt, đứng lên gọi lại”Hắn đuối theo thị”. Hoàn toàn vô vọng Chí cố uống rượu đế say, để tìm quên đau khổ. Nhưng “càng uống lại càng tỉnh”; “hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoảng thoảng thấy hơi cháo hành, hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Nam Cao đã thật tinh tế thật sâu sắc khi miêu tả những biến đổi tâm trạng của nhân vật. Từ tâm trạng ấy, ta thấy những khát khao chân chính của Chí. Nhưng khi lương tri đã trở về lại là lúc bi kịch ập đến. Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Nếu ta đánh giá cao tài năng của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật và đặc biệt là nghệ thuật thắt nút – tháo nút – thắt nút trong tác phẩm thì chính đoạn văn miêu tả mối tình Chí – thị là sự tháo nút của nhà văn nhưng lại là để lần thắt nút cuối cùng giải quyết toàn bộ xung đột bằng hành động quyết liệt của Chí ở cuối tác phẩm.

Đó là hành động đi đòi lương thiện của Chí. Trong tận cùng đớn đau tuyệt vọng, trong cơn khát thèm lương thiện, mơ ước gia đình, Chí đã tìm đến nhà bá Kiến (kẻ đã cướp đi đời lương thiện của Chí) không phải đế rạch mặt ăn vạ hay xin đi tù đế có chỗ trú thân như mọi lần mà là để đòi lương‘ thiện : “Tao muốn làm người lương thiện”. Thế nhưng, Chí không còn đường nào khác, khi anh nhận ra được một bi kịch: “Không được! Ai cho tao lương thiện, làm thế nào mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa . Biết không ?”. Chí nói rất dõng dạc câu nói đòi quyên làm người và đó cũng Bà những tiếng kêu tuyệt vọng của Chí. Bởi trong cái xã hội “Chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) ấy, quyền sổng chính đáng của con người không được chấp nhận. Vậy nên chỉ có một cách: giết bá Kiến và tự sát. Hành động của Chí Phèo như là một quy luật tất yếu . Nó không đơn giản là hành động trả thù cá nhân mà là hành động trả thù giai cấp. Bị đè nén, bị áp bức nhiều thì họ phải đứng lên chống lại. Nhưng hiện thực lúc bấy giờ, giết bá Kiến rồi Chí Phèo cũng chỉ có một con đường chết. Đó cũng chính là kết cục chung của các tác phẩm hiện thực phê phán: nhân vật hoặc lâm vào ngõ cụt không lối thoát , hoặc là chết. Cái chết của Chí để lại thương tâm cho người đọc. Không ít người lên án, cho rằng Nam Cao quá nhẫn tâm hoặc gắn cái hạn chế cho nhà văn. Nhung không phải thế, yêu thương sâu sắc người nông dân, gắn bó máu thịt với cuộc sống của họ.Nam Cao chắc sẽ rất đau trước cái chết của Chí. Nhưng thời đại ấy, không thể viết khác được. Đó là hạn chế của thời đại chứ không phải của nhà văn.

Tác phẩm khép lại là hình ảnh thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và đâu đó hiện ra một cái lò gạch bỏ hoang (nơi Chí Phèo ra đời). Hình ảnh ấy tạo cho tác phẩm kết cấu vòng tròn, đầu cuối tương ứng đổng thời cũng gọi ra cái vòng luẩn quẩn tối tăm của người nông dân nghèo. Hiện thực xã hội cũng lại phơi bày ,Lại một quy luật “tre già măng mọc”: Chí Phèo chết sẽ có một Chí Phèo con ra đời, Bá Kiên chết rổi nhưng còn trăm ngàn bá Kiến khác… Biết khi nào người nông dân mới thoát khỏi bốì cảnh ây? Đó là trăn trớ của nhà văn, là sự day dứt của người đọc. Trang văn Nam Cao bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong chan chứa tấm lòng nhân hậu, nhân đạo, nhân văn cao cả là vậy.

Tóm lại đoạn văn miêu tả tâm trạng, sự đổi thay, những khát khao và cả cái bi kịch dẫn đên thảm kịch của Chí là đoạn văn thành công nhất của Nam Cao. Có thể coi đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chí. Là đoạn văn thế hiện lòng yêu thương con người và cả lòng tin tưởng vào “thiện căn” ở con người Nam Cao. Cũng từ đó mà tác phẩm thêm sức sông kì diệu, tô đậm hơn giá trị hiện thực và làm ngời sáng giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Đến đây ta có thể mạnh dạn mà đồng tình với một ý kiến của ai đó khi nói “Nếu không viết Chí Phèo, Nam Cao đã để lại cho văn học Việt Nam một khoảng trống lớn”. Đúng vậy qua Chí Phèo, Nam Cao đã đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung một tiếng nói nhân đạo, một nhân vật mang tính điển hình cho người nông dân trước Cách mạng bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng luôn dám đấu tranh để chống lại bất công. Nỗ lực không ngừng, cái tâm – cái tài của Nam Cao đã được chi nhận xứng đáng: “Trong văn hóa Việt Nam, với ngòi bút Nam Cao ta bắt đầu thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn” (Nguyên Hồng).

Phân tích nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở – Mẫu số 3

Nam Cao là nhà văn của nhân dân, nhà văn hiện thực xuất sắc. Những tác phẩm văn chương của ông đều rất hiện thực nhưng mang giá trị nhân văn sâu sắc. Ông rất cẩn trọng trong cách nhìn đời, cách viết, vì vậy những tác phẩm của ông đều được viết dưới con mình tình thường, sự cảm thông sâu sắc với các nhân vật. Chí Phèo là một trong những tác phẩm thành công của nam cao về hiện thực cuộc sống những năm 1945. Với cái nhìn đầy tình thương, Nam Cao đã cho sự lương thiện quay về một lần nữa sau khi Chí gặp thị Nở. Phân tích nhân vật chí phèo sau khi gặp thị nở – cuộc gặp định mệnh để con người tìm lại linh hồn đã mất sau bao nhiêu biến cố cuộc đời. Cuộc gặp gỡ giàu tính nhân văn và đọng lại rất nhiều cảm xúc trong lòng độc giả.

Phân tích nhân vật chí phèo sau khi gặp thị nở – Trước khi trở thành “con quỷ” làng Vũ Đại, Chí cũng từng là người lương thiện. Chàng trai 20 tuổi khỏe mạnh, rắn rỏi đã bị Bá kiến hãm hại và bị bắt vào tù. Đây chính là bị kịch của cuộc đời Chí, hay nói chính hơn là sự thối nát, mục rữa của xã hội phong kiến đã biến cuộc đời một con người bình thường trở thành bất bình thường. Một con người nhân tính trở thành bất nhân tính. Nó chính là kết quả của xã hội mục nát và khốn nạn, coi rẻ mạng người, coi rẻ nhân tính. Chí chính là nạn nhân của xã hội thối nát ấy. Nhà từ Thực Dân đã biến Chí trở thành con quỷ của làng Vũ Đại, khiến Chí bước vào đường cùng mà trên con đường tìm đến sự lương thiện không có lối thoát.

Sau khi ra tù, Chí làm tay sai cho Bá Kiến hay chính xác là làm tay sai cho bọn địa chủ phong kiến thực dân. Chúng không chỉ làm tha hóa con người mà còn biến con người thành công cụ để lợi dụng, đục khoét xã hội và đàn áp nhân dân. Hoàn cảnh của Chí đã tố cáo phần nào xã hội phong kiến thối nát bấy giờ.

Trước khi gặp Thị Nở Chí thực sự là con quỷ là Vũ Đại lấy rượu làm bạn và lấy tiếng chửi để giải sầu. Cuộc đời là những gày dài triền miên trong rượu và trong tiếng chửi. Chí chửi cả làng, cả xã, chửi cả xã hội cả ông trời, nhưng không ai để ý đến Chí. Sự im lặng của xã hội là sự coi khinh và coi thường đáng sợ, đó là sự không công nhận một con người tồn tại. Cuộc đời Chí trượt dài trên những nỗi buồn, sự thất bại và sự không công nhận. Trong mắt những người Vũ Đại, Chí không phải là người và không có quyền được làm người. Thật đau đớn xót xa làm sao cho nhân vật của Nam Cao. Với cách miêu tả về cuộc đời Chí ông đã đẩy các tình huống lên mức kịch tính để người đọc quá xót thương, cảm thông cho cuộc đời Chí. Cuộc đời bị  hủy hoại bởi bàn tay nhơ nhuốc phong kiến thực dân.

Vậy là, Chí cứ chửi, chửi mãi không ai nghe Chí lại rẽ vào nhà Tự Lãng uống rượu. Khi đã uống hả hê Chí lảo đảo ra về. Hắn về gặp một người đàn bà nằm ngủ quên ở bờ sông gần nhà. Đó chính là Thị Nở. Và trong cơn say, hắn đã ăn nằm với Thị Nở và ngủ say dưới ánh trăng. Một chi tiết nhỏ thôi mà đã khai thông cả một tâm hồn, mở ra một áng văn mới cho cuộc đời Chí.

Thị Nở, người đàn bà xấu nhất nàng, ma chê quỷ hơn, người đàn bà ế sưng ế xỉa vậy mà với Chí đó lại là người tuyệt vời, ấm áp nhất, người đã nâng đỡ tâm hồn khốn khổ của Chí, đã khiến Chí “tỉnh”. Cuộc gặp gỡ này đã đem đến những chuyển biến tâm lý rất rõ nét trong Chí Phèo.

Sau bao nhiêu năm đằng đẵng trong tăm tối, lần đầu tiên Chí chợt nhận ra mình ở trong một cái lều ẩm thấp: “Chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Thật đáng thương cho một con người, sống bao nhiêu năm trong đau khổ mà không hề nhận ra. Cái lều không phải là nhà, chỉ là nơi để Chí tìm về ngủ khi đã say mèm trong men rượu. Vậy mà giờ đây nó lại là nơi mà Chí bắt đầu nhen nhóm về hạnh phúc, về cuộc sống tương lai. Tâm hồn cằn cỗi, con quỷ làng Vũ Đại dần thức tỉnh. Trái tim Chí đang bừng tỉnh như cơn mưa rào tưới mát những mảnh đất khô cằn. Chí Bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài. Chí cảm thấy miệng đắng và lòng mơ hồ buồn. Chí cảm thấy sợ rượu. Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá. Một người nghiện rượu như Chí vậy mà chỉ sau một đêm sợ rượu. Đây không chỉ đơn thuần là nỗi sợ bên ngoài mà đây là nỗi sợ bên trong, dấu hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất.

Lần đầu tiên, Chí mới cảm nhận được âm thanh của cuộc sống, những âm thanh quá đỗi quen thuộc hàng ngày mà giờ đây, chí mới thấy. Đó là âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười. Trời ơi, những lời văn Nam Cao viết dành cho Chí nó mới xúc động, mới chân thành làm sao. Những điều tưởng chừng như vẫn diễn ra hàng ngày ai cũng biết, vậy mà giờ Chí mới biết. Để rồi, khi đủ nhận ra hoàn cảnh của mình Chí sẽ càng tấy cô độc hơn. Nỗi cô đơn của một con người, sống giữa một xã hội  loài người nhưng lại không được công nhận là một con người.

Sau khi gặp Thị Nở Chí Phèo đã thức tỉnh tực sự. Và giờ đây, Chí bắt đầu có những hi vọng về cuộc sống gia đình, về tương lai, một gia đình nhỏ chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng. Chí muốn được sống như những người bình thường khác, cũng làm lụng vất vả nuôi con, cũng vui cười bình dị như biết bao gia đình. Đặc biệt, khi Chí ốm và được Thị nấu cho bát cháo hành. Chí ngạc nhiên và thất “ mắt mình như ươn ướt”. Một con người quá đỗi cô đơn, một con người bị cả xã hội hắt hủi bấy lâu nay vậy mà vẫn nhận được tình thương, hơi ấm từ một con người, thì đây là nỗi niềm hạnh phúc, xúc động khôn tả. Trái tim lương thiện của Chí đã được đánh thức. Chí khao khát muốn được sống như một con người bình thường hơn nữa.

Với xã hội, Thị Nở xấu, ma chê quỷ hờn thì với Chí đó là một người cũng có duyên, hắn cũng muốn làm nũng với Thị và thấy lòng mình trẻ con hơn. Chính tình yêu của Chí dành cho Thị đã khiến hắn hạnh phúc, có nhu cầu sống, nhu cầu được hạnh phúc và muốn làm người lương thiện. “ Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui” – Câu nói giản dị mà chân thành của Chí, là lúc Chí tỉnh nhất, là lúc Chí muốn được sống như một con người nhất. Thị chính là cầu nối để Chí trở về. Thị chính là hi vọng để cứu vớt con người. Chỉ cần một cánh tay đưa ra, chỉ cần một trái tim ấm áp cũng sẽ cứu vớt được một trái tim lạnh giá, cô độc giữa cuộc đời. Nam Cao đã giúp Chí tìm được điểm tựa của mình. Nhưng đắng cay thay, sự hà khắc của xã hội phong kiến, những hủ tục, sự mục rũa đã khiến cho một con người muốn sống như một con người không hề dễ.

Đó là khi bà cô Thị cấm Thị với Chí thì đây chính là bi kịch của cuộc đời Chí. Khi sợi dây liên kết cuối cùng bị cắt đứt cũng là lúc con người ta không còn đường sống, bế tắc và bất lực. Chí đang từ trên thiên đường thì bị rơi xuống vực sâu. Vực sâu này còn sâu và đau hơn trăm ngàn lần so với những lần trước. Nếu cuộc đời trước khi gặp Thị là cuộc đời tăm tối cô đơn kéo dài mãi mãi và không lối thoát, sống hờ hững vô tâm như một con quỷ, mặc đời trượt dài trong rượu. Thì sau khi gặp Thị, Cuộc đời đã tìm được lối thoát, đã tỉnh, đã muốn sống tử tế, làm người lương thiện, vậy nên khi không đạt được nguyện vọng, trái tim sẽ đau gấp trăm ngàn lần. Lúc này, Chí mới bừng tỉnh, mới biết cả xã hội quay lưng với mình, mới biết quyền làm người quan trọng làm sao, mới biết sông để làm một con người lương thiện khó làm sao, và Chí mới hiểu, sống không thể như một con người thì sống để làm gì!? Và ai chính là gốc rễ khiến cuộc đời Chí dẫn đến bi kịch này!?

Phân tích nhân vật chí phèo sau khi gặp thị nở – Tình yêu bị ngăn cấm, Chí “ngẩn người”, “ ngẩng mặt”, đây là những biểu hiện của sự nhận thức, hiểu ra tình cảnh đáng thương của mình. Chí bỗng thấy thoáng hương cháo hành như mong muốn níu kéo hạnh phúc. Đặc biệt hành động nắm lấy tay thị. Đây là hạnh động cố gắng níu kéo hạnh phúc nhưng sự níu kéo của Chí không thể chống lại cả xã hội phong kiến. Để rồi, Chí lại tìm đến rượu và “ôm mặt khóc rưng rức”. Nhưng ngay trong lúc này đây, Chí càng uống càng tỉnh, càng xót xa cho thân phận hoàn cảnh của mình. Chí muốn trở thành người lương thiện nhưng không thể nữa rồi. Lương Thiện và độc ác vốn là sự lựa chọn của lương tâm mỗi con người, vậy mà với Chí để làm lương thiện lại phải chờ sự công nhận của xã hội, chí không có quyền lựa chọn.

Đây là tình huống mang đến kịch tính cho truyện và được đảy lên cao. Sự phẫn uất, đau đớn diễn ra sau khi Chí không được ở bên Thị hay chính xác hơn không được xã hội công nhận là con người. Hắn quyết định tìm đến nhà ngăn cản tình yêu của hắn là nhà Thị Nở. Nhưng không, Chí lại đến nhà Bá Kiến đây mới là gốc rễ vấn đề, là phần gốc cần giải quyết triệt để. Nam cao đã nhìn ra vấn đề này, đã cố gắng tìm cách giải quyêt vấn đề tốt nhất. Khi chúng ta chỉ thấy phần ngọn là sự ngăn cấm tình yêu của bà cô, nhưng không phải ai cũng đủ tỉnh, đủ yêu thương các nhân vật mà nhìn ra phần gốc, đó là sự thối nát của xã hội phong kiến, bọn địa chủ tay sai thực dân mới là phần gốc gây nên tình trạng tha hóa của thanh niên thời bấy giờ.

Cuối cùng, Chí phèo giết bá kiến và tự kết liễu đời mình. Đây là hành động thể hiện sự phẫn uất đến tuyệt vọng và tột cùng. Một số ý kiến trái chiều cho rằng, đây là cái kết quá bi kịch cho một cuộc đời. Nhưng nó là cái kết hợp lý cho xã hội bấy giờ. Chí phèo là đại diện cho tầng lớp thanh niên bị tha hóa, Bá kiến đại diện cho tầng lớp thống trị và bà cô đại diện cho tầng lớp nhân dân. Bi kịch cuộc đời là sự không chế và đàn áp của các tầng lớp. Nếu Chí không tự mình đấu tranh thì không thể tìm cho mình được quyền sông và thừa nhận. Và đấu tranh thì phải có đổ máu. Có lẽ nếu ở thời điểm khác, Nam Cao sẽ tìm ra được một cách giải quyết hay hơn. Nhưng trong thời điểm này, thì đây chính là cách giải quyết vấn đề hay nhất, phù hợp nhất. Đó là sự tuyệt vọng, bế tắc , đường cùng, sự tỉnh ngộ của con người trong xã hội cũ.

Khép lại trang sách, độc giả vẫn cảm thấy nhói ở trong tim, vẫn cảm thấy quá thương cho cuộc đời Chí. Có lẽ ở một hoàn cảnh khác, Chí sẽ xứng đáng có một cuộc sống như hắn mong ước và sẽ được làm người lương thiện như hắn muốn. Nhưng có lẽ, trong hoàn cảnh này, kết thúc cuộc đời lại chính là sự thức tỉnh của một xã hội, cần lắm sự hi sinh dũng cảm đấu tranh như thế. Những lời văn giàu hình ảnh, mộc mạc, chân thật, hiện thực, thông qua tình huống gặp gỡ của Chí với Thị, Nam Cao đã tái hiện lên bức tranh hiện thực tàn khốc về định kiến xã hội, về khát vọng sống và lương tri của con người, về tình yêu và sự hà khắc của xã hội phong kiến. Diễn biến của Chí chính là diễn biến của sự phát triển xã hội. Thông qua đây cũng thấy được tấm lòng của Nam Cao dành cho nhân vật của mình , nói rộng hơn là dàn cho nhân dân của mình. Ông đã viết lên một tác phẩm bằng cả tâm gan, tình yêu với nó. Một tác phẩm để đời giúp cho thế hệ sau hiểu được rằng, đã có một thời đất nước ta như thế, hãy sống thật tốt để không phụ những tấm lòng trong quá khứ đã chiến đấu, hi sinh vì một thế hệ tốt hơn.

 —/—

Như vậy THPT Trịnh Hoài Đức đã trình bày xong bài văn mẫu Phân tích nhân vật Chí phèo sau khi gặp Thị Nở. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết