• Trang chủ
  • Lớp 10
  • Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi – Văn mẫu 10 hay nhất
wp-content/uploads/2021/12/nothumb-best-featured.png

Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi – Văn mẫu 10 hay nhất

Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi gồm dàn ý và các bài văn mẫu không chỉ giúp các em có thêm những ý tưởng hay cho bài viết của mình mà còn nâng cao hiểu biết về hoàn cảnh ra đời, nội dung bài thơ. Qua đó cảm nhận được khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ trong thời chiến loạn.

Dàn ý Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi  – Mẫu 1

1) Mở bài

– Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm:

+ Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh năm mất) sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là người có cống hiến to lớn đối với nền văn học Việt Nam.

+ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) là người có công với nền văn học quốc âm, một nữ sĩ nổi tiếng với nhiều giai thoại về khả năng xuất khẩu tài tình.

– Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích:

+ Chinh phụ ngâm là tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng và về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.

+ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích từ câu 193 đến câu 220 của tác phẩm Chinh phụ ngâm, trong đó 8 câu thơ cuối đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm.

b) Thân bài

* Khái quát về đoạn trích

– Hoàn cảnh sáng tác: Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.

– Giá trị nội dung: Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

* Phân tích 8 câu thơ cuối

Luận điểm 1: Ước muốn của người chinh phụ

– Hình ảnh thiên nhiên:

+ Gió đông: gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.

+ Non Yên: Điển tích chỉ núi Yên Nhiên, nơi biên ải phương bắc xa xôi – nơi người chồng đang chinh chiến.

+ “Nghìn vàng”: Hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ (buồn tủi, cô đơn, lo lắng, trống vắng, hi vọng rồi lại thất vọng)

→ Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hi vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân mang đến nơi chiến trường xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.

=> Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.

Luận điểm 2: Nỗi nhớ của người chinh phụ

– Không gian:

+ “Non yên – non yên, trời – trời” -> thủ pháp điệp liên hoàn nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không gì có thể khỏa lấp nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng người chinh phụ.

+ “thăm thẳm, đau đáu” : từ láy cực tả cung bậc của nỗi nhớ, thăm thẳm là nỗi nhớ sâu, dai dẳng, triền miên, đáu đáu là nỗi nhớ gắn với nỗi đau, nỗi sầu. -> Nỗi nhớ triền miên trong thời gian vô tận được cụ thể hóa bằng không gian xa vời, khắc họa nỗi nhớ khắc khoải dằng dặc.

+ “Đường lên bằng trời”: Xa vời dường như không có điểm cuối

=> Nhấn mạnh sự xa cách trùng khơi của người chinh phụ, thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ mỗi lúc một tăng tiến, dồn nén trở thành nỗi đau xót xa.

Luận điểm 3: Mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh

– “Cảnh buồn”, “người thiết tha lòng”: Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau

– Cảnh vốn là vật vô tri nhưng tâm trạng của con người đã nhuốm sầu cảnh vật.

+ “Cành cây sương đượm”: Gợi sự buốt giá, lạnh lẽo

+ “Tiếng trùng mưa phun”: Sự ảo não, hoang vắng, nghe được cả tiếng côn trùng kêu rả rích.

=> Tâm trạng cô đơn, thổn thức, nỗi nhớ thương, khát khao được đồng cảm nhưng vô vọng, người chinh phụ đã hướng nỗi buồn ra ngoài cảnh vật khiến nó cũng trở nên não nề.

* Đặc sắc nghệ thuật:

+ Sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp liên hoàn, từ láy

+ Thủ pháp tả cảnh ngụ tình

+ Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế

+ Hình ảnh ước lệ

+ Giọng điệu da diết, buồn thương

c) Kết bài

+ Khái quát nội dung, nghệ thuật 8 câu thơ cuối: 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

+ Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính

Bài văn Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi – Mẫu số 1

Trong nửa đầu thế kỉ XVIII, trước tình cảnh rối ren, loạn lạc cùng những cuộc nội chiến diễn ra liên miên khiến nhiều gia đình rơi vào bi kịch chia li, tác phẩm “Chinh phụ ngâm” ra đời đã tái hiện thành công nỗi khát khao hạnh phúc của con người, đồng thời thể hiện tiếng nói lên án đối với những cuộc chiến tranh phi nghĩa. 8 câu cuối trong trích đoạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã diễn tả nhiều cung bậc trạng thái cảm xúc của người chinh phụ.

Dù tâm trạng người chinh phụ thường trực nỗi lẻ loi buồn tủi và xoáy sâu vào bi kịch của sự cô đơn, của những dự cảm chẳng lành nhưng nàng vẫn một lòng hướng về người chinh phu nơi biên ải xa xôi với sự trông ngóng, mong chờ:

Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Không gian ngoại cảnh được mở rộng theo chiều kích cao rộng của miền non Yên, gợi nên khoảng cách địa lí xa xôi. Đồng thời, đó cũng chính là không gian tràn ngập nỗi nhớ trong tâm tưởng của nhân vật trữ tình. Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ láy như “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” kết hợp cùng biện pháp điệp ngữ: “non Yên – non Yên”, “đường lên bằng trời – trời thăm thẳm” để nhấn mạnh nỗi đau đớn khôn nguôi cùng nỗi sầu tủi luôn thường trực trong tâm hồn người chinh phụ.

Lúc này, cảnh vật cũng mang nặng tâm trạng và chất chứa sự buồn thương: “cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”. Bút pháp tả cảnh ngụ tình – một trong những bút pháp đặc trưng của thơ ca trung đại đã được tác giả vận dụng thành công để khắc họa nỗi lòng của nhân vật. Đối diện với không gian tĩnh mịch, tịch liêu, dường những giọt sương đêm không chỉ thấm đẫm cành cây kẽ lá mà còn thấm đượm cả tâm hồn giá buốt của nàng.

Tiếng côn trùng được khắc họa qua bút pháp “lấy động tả tĩnh” đã nhấn mạnh sự cô quạnh, hiu hắt của cảnh vật. Phải chăng đó cũng chính là tiếng lòng yếu đuối đang vang lên trong sự sầu tủi bất lực của nàng. Tâm trạng sầu thảm của nàng đã hòa cùng tiếng mưa và cảnh vật.

Như vậy, thông qua việc sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng, bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã tái hiện thành công bức tranh tâm trạng đầy phức tạp nhưng thống nhất của người chinh phụ. Các cung bậc của nỗi nhớ đã được khắc họa một cách sinh động nhưng đều thể hiện tiếng lòng thiết tha của trái tim người phụ nữ thủy chung, khao khát hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình.

Qua đó, chúng ta có thể thấy được tiếng nói đồng cảm, xót thương của tác giả đối với bi kịch của người phụ nữ cùng sự lên án, phê phán những cuộc chiến tranh phi nghĩa trong thời buổi xã hội phong kiến rối ren, loạn lạc.

Bài văn Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi – Mẫu số 1

Cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến ở nước ta cuối thế khỉ XVIII đi qua để lại những đau thương mất mát không gì bù đắp được. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả. Tác phẩm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đoạn trích dưới đây là một trong những đoạn tiêu biểu của bản ngâm khúc:

Khi phân tích 16 câu đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta thấy người chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng với tâm trạng cô đơn, lẻ loi, nỗi trống trải trong lòng thì đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết. Mượn gió đông để gửi yêu thương cho chồng. Đó là ước muốn, là khát khao được biết tin tức về chồng mình:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”

Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với điển cố (non Yên) để diễn tả nỗi nhớ của nhân vật. “Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ. Gió đông là gió mùa xuân. Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió, nhờ gió đưa tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi, nguy hiểm, nơi non Yên nghìn trùng. Non Yên, một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía Bắc, nơi chiến trận đầy gian khổ. Nàng hỏi gió, nhờ gió nhưng ”có tiện” hay không? Nàng mong gió hãy mang nỗi nhớ của nàng nói với người chồng ngoài biên cương. Sự cô đơn trong lòng người chinh phụ ngày càng khắc khoải. Làm sao tới được non Yên, nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh”? Cùng với những từ ngữ trang trọng “gửi nghìn vàng”, “xin” đã giúp người đọc thấy được không gian, nỗi nhớ được mở ra thật mênh mông, vô tận, khắc sâu nỗi cô đơn, hiu quạnh. Thế nhưng hiện thực thật phũ phàng, đau xót:

“Non Yên dù chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Việc sử dụng từ láy “thăm thẳm” đã nói lên được nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Nỗi nhớ thương ấy đè nặng trong lòng, triền miên theo thời gian, “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời”. Có thể nói, dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ. Nỗi nhớ thương ấy, tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn – điệp ngữ. Cả một trời thương nhớ mênh mông. Nỗi buồn triền miên, dằng dặc vô tận.

Sau khi hỏi “gió đông” để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng, cuối cùng đọng lại trong nàng là nỗi đau, sự tủi thân:

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng, với biển trời rộng lớn, xa “thăm thẳm” không hiểu cho “nỗi nhớ chàng” của người vợ trẻ. Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng. Đau đáu nghĩa là áy náy, lo lắng, day dứt khôn nguôi. Có thể nói qua cặp từ láy: “đằng đẵng” và “đau đáu”, dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn, lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể, tinh tế, sống động. Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương. Ở hai câu cuối, nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh:

“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên. Niềm thương nỗi nhớ cứ kéo dài từ ngày này sang ngày nọ. Nhìn cành cây ướt đẫm sương đêm mà lòng nàng lạnh lẽo. Nghe tiếng trùng kêu rả rích thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà thêm nhói lòng, buồn nhớ. Âm thanh ấy, cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn, càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ, cô đơn biết bao thương nhớ, lo lắng, buồn rầu.

Bằng những hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa, sự mòn héo của cảnh vật, tám câu thơ cuối đã diễn tả nỗi nhớ da diết, nhớ tới thầm đau của người chinh phụ. Nỗi đau được chuyển từ lòng người sang cảnh vật. Hàng loạt những hình ảnh ẩn dụ, từ ngữ gợi tả lại càng xoáy mạnh vào nỗi đau trong lòng người chinh phụ. Qua đó người đọc cũng cảm nhận được một cách sâu sắc niềm thương cảm, thấu hiểu của tác giả đối với nỗi đau của người phụ nữ có chồng ra trận.

Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.

Đoạn trích cũng như toàn tác phẩm “Chinh phụ ngâm” là tiếng kêu thương tâm của người phụ nữ nhớ chồng nơi chinh chiến. Trạng thái tình cảm của người chinh phụ một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận để biết bao chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Tác phẩm đã khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc.

—/—

Thông qua Phân tích 8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi học sinh giỏi và một số bài văn mẫu tiêu biểu được THPT Trịnh Hoài Đức tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 10

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết