• Trang chủ
  • Hãy nêu các nhóm giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Kể tên một số giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong các ngành sản xuất và đời sống hằng ngày ở nước ta hoặc ở địa phương | Địa Lý 10
storage/uploads/hay-neu-cac-nhom-giai-phap-giam-nhe-bien-doi-khi-hau-ke-ten-mot-so-giai-phap-giam-nhe-bien-doi-khi-hau-trong-cac-nganh-san-xuat-va-doi-song-hang-ngay-o-nuoc-ta-hoac-o-dia-phuong_1

Hãy nêu các nhóm giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Kể tên một số giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong các ngành sản xuất và đời sống hằng ngày ở nước ta hoặc ở địa phương | Địa Lý 10

Câu hỏi: Dựa vào bảng 1.3, hãy nêu các nhóm giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Kể tên một số giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong các ngành sản xuất và đời sống hằng ngày ở nước ta hoặc ở địa phương.

Lời giải:

* Các nhóm giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu: gồm 4 nhóm giải pháp

– Trong nông nghiệp

– Trong công nghiệp

– Trong dịch vụ (giao thông vận tải và du lịch)

­- Trong giáo dục và tuyên truyền

* Một số giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong các ngành sản xuất và đời sống hằng ngày ở nước ta:

– Giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc phát triển mạng lưới giao thông công cộng với các phương tiện sử dụng năng lượng sạch như tàu điện,… giảm phương tiện giao thông cá nhân.

– Tập trung phát triển công nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao, từng bước loại bỏ, thay thế các công nghệ cũ, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường.

– Đẩy mạnh phát triển du lịch, tận dụng những lợi thế riêng có để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt lưu ý gắn phát triển du lịch với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và sinh cảnh quý giá của các địa phương trên cả nước.

>>> Tham khảo: Hãy phân tích tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp. Lấy ví dụ về tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu

Tìm hiểu một số ngành sản xuất chủ yếu ở nước ta

Theo quan sát tại các khu công nghiệp, hiện nay ở Việt Nam có các ngành sản xuất chủ yếu như sau:

1. Ngành dệt may

Ngành dệt may của Việt Nam bao gồm 3 phân ngành: khu vực thượng nguồn (sản xuất sợi), trung nguồn (sản xuất và nhuộm vải) và hạ nguồn (sản xuất hàng may mặc).

Các phân ngành sản xuất sợi hoặc vải chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong nước có chất lượng chưa thật sự cao. Khu vực hạ nguồn của sản xuất hàng may mặc chiếm khoảng 70% tổng ngành dệt may ở Việt Nam với mô hình chủ yếu gia công Cắt may (CMT) là chính. Năm 2019, CMT chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi các mô hình kinh doanh tiên tiến hơn, như Nhà sản xuất may mặc từ gốc (OEM) và Nhà sản xuất từ thiết kế gốc (ODM) chỉ chiếm 35%.

Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc là những thị trường xuất khẩu chính của các sản phẩm dệt may của Việt Nam. Mặc dù Việt Nam có tiềm năng trồng và sản xuất bông rất lớn nhưng ngành dệt may lại nhập khẩu phần lớn nguyên liệu bông. Năm 2019, Việt Nam nhập khẩu tới 89% lượng vải, trong đó, 55% là từ Trung Quốc, 16% từ Hàn Quốc, 12% từ Đài Loan và 6% từ Nhật Bản.

2. Sản xuất Máy móc thiết bị, cơ khí

Theo market-prospects.com, Việt Nam được dự đoán sẽ trở thành một cơ sở sản xuất mới ở châu Á trong vài năm tới, khi đó nhu cầu về máy móc trong nhiều ngành công nghiệp dự kiến ​​sẽ ở mức rất cao. Bất chấp đại dịch Covid-19, chỉ số sản xuất công nghiệp của Việt Nam vẫn tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước (2019) (tháng 10/2020).

Trung bình mỗi năm Việt Nam phải chi 3 đến 4 tỷ USD để nhập khẩu các loại máy xây dựng từ các nước trên thế giới. Có tới 150.000 nhà thầu xây dựng trong đó có khoảng 2.000 nhà thầu lớn và vừa đang hoạt động với hàng nghìn công trình lớn trên mọi miền đất

3. Điện tử

Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã và đang diễn ra, và chi phí sản xuất gia tăng ở Trung Quốc, Việt Nam đã gặt hái được những lợi ích để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Việt Nam đang đạt được vị trí là một trong các nước xuất khẩu điện tử chủ lực, từ vị trí khiêm tốn 47 năm 2001 lên vị trí thứ 12 năm 2019. Đặc biệt, xuất khẩu điện thoại di động đứng thứ hai trên toàn thế giới, với giá trị trên 50 tỷ USD vào năm 2019.

Ngành điện tử ở Việt Nam chủ yếu do các công ty nước ngoài nắm phần lớn thị phần sản xuất – xuất khẩu, đặc biệt là các công ty đa quốc gia chi phối. Mặc dù số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ bằng một phần ba tổng số doanh nghiệp điện tử, nhưng từ năm 2016 đến 2019, tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp này chiếm hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu và bao phủ 80% nhu cầu thị trường trong nước.

4. Chế biến nông lâm thủy sản

Với đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (20% GDP), nông nghiệp sẽ tiếp tục đóng một vai trò đáng kể trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Sức mạnh về sản lượng nông nghiệp của Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng nông thôn rộng lớn (66% dân số ở nông thôn), nơi lao động nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp chiếm 70% lực lượng lao động. 

Cụ thể, công nghệ chế biến nông sản nhìn chung chưa cao chỉ đạt ở mức trung bình (ngoại trừ một số tổ hợp chế biến NLTS hiện đại được đầu tư trong 4 – 5 năm trở lại đây), sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao tỷ lệ còn thấp (10-40% tùy ngành hàng), chủng loại sản phẩm chế biến chưa phong phú.

Đóng góp của công nghiệp chế biến nông sản để làm tăng giá trị gia tăng của nông sản hàng hoá còn nhiều hạn chế, tác động đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa mạnh. Chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chế biến còn thấp, luôn tiềm ẩn nguy cơ không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; tổn thất sau thu hoạch còn cao khoảng 10 – 20% tùy theo ngành hàng.

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 10, Địa lý 10

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết