• Trang chủ
  • Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tây Tiến (hay nhất)
storage/uploads/cam-xuc-chu-dao-cua-bai-tho-tay-tien_1

Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tây Tiến (hay nhất)

Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tây Tiến là cảm hững lãng mạn. Bút pháp lãng mạn được thể hiện ở hai phương diện. Thứ nhất là ở nội dung cảm hứng. Đó là nỗi nhớ một thời chiến tranh gian khổ, hy sinh; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến. Thứ hai là ở nghệ thuật thể hiện. Đó là bút pháp tương phản đối lập trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống chiến đấu và chấn thơ từ chính cuộc sống đó; nét bi thương và hào hùng của hình tượng người lính; giọng điệu bi tráng của tác phẩm,… Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến tạo một dấu ấn đậm nét trong nền thơ Việt Nam thời kỳ chống thực dân Pháp.

Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tây Tiến

Lãng mạn là cảm hứng, cảm xúc chủ đạo của nhà thơ Quang Dũng ở bài thơ Tây Tiến. Chính nguồn cảm hứng ấy đã biến thành nguồn cảm xúc tuôn trào, thôi thúc nhà thơ sáng tác.

– Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến thể hiện ở các khía cạnh sau:

+ Lãng mạn là cảm hứng chủ đạo của nhà thơ Quang Dũng ở bài thơ Tây Tiến. Chính nguồn cảm hứng ấy đã biến thành nguồn cảm xúc tuôn trào, thôi thúc nhà thơ sáng tác. Do đó, bài thơ viết về Tây Bắc và những người lính Tây Tiến nhưng lại là một tác phẩm trữ tình, một cái tôi cá nhân đầy cảm xúc, với nỗi nhớ khi đong đầy, tràn ngập, khi bâng khuâng, luyến tiếc.

+ Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái nhìn đối với thiên nhiên: Thiên nhiên Tây Bắc với núi đồi trùng điệp, hiểm trở, nhưng dưới con mắt của những người lính Tây Tiến, những cảnh tượng ấy lại có vẻ đẹp tươi mới, hấp dẫn của sự khám phá, kiếm tìm.
Hơn nữa, người lính Tây Tiến còn tìm thấy ở đó những cảnh thơ mộng.

+ Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở chân dung người lính lãng mạn hào hoa: Xem thường nguy nan, xem thường bệnh tật, cái chết. Ấp ủ nhiều ước mơ tươi đẹp.

+ Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở giọng điệu (khi mềm mại, thiết tha, lúc hùng tráng, khỏe mạnh), ở thủ pháp tương phản (hình ảnh), từ ngữ ước lệ… Đây là những hình thức nghệ thuật rất đặc thù của thơ ca lãng mạn nói chung.

[CHUẨN NHẤT] Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tây Tiến

Bài văn Phân tích cảm hứng lãng mạn ở bài thơ Tây Tiến – Mẫu 1

Quang Dũng là một trong những nhà thơ nổi bật của nền thơ Việt Nam đầu thời kì kháng chiến chống Pháp. Thơ ông giàu chất lãng mạn, là sự kết hợp hài hòa giữa thơ ca, âm nhạc và hội họa. Quang Dũng thường viết về quê hương với tình yêu mến tha thiết. Tây tiến là tác phẩm nổi tiếng nhất của Quang Dũng, được in trong tập Đôi mắt người Sơn Tây. Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng.

Cảm hứng lãng mạn trong văn học được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ.

Cảm hứng lãng mạn vì thế thường khai thác những đề tài như thiên nhiên tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng kỉ niệm,….; đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày. Cảm hứng lãng mạn đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng. Cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương phóng đại, thủ pháp tương phản, đối lập, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và gây ấn tượng mạnh mẽ.

Trong bài thơ Tây tiến, nhà thơ Quang Dũng đã rất chú trọng đến những đặc trưng của cảm hứng lãng mạn khi biểu đạt cảm xúc của mình. Có thể thấy, cảm hứng lãng mạn của bài thơ Tây Tiến thể hiện ở hai phương diện. Thứ nhất là ở nội dung cảm hứng. Đó là nỗi nhớ một thời chiến tranh gian khổ, hy sinh; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính tây tiến. Thứ hai là ở nghệ thuật thể hiện. Đó là bút pháp tương phản đối lập trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống chiến đấu và chấn thơ từ chính cuộc sống đó; nét bi thương và hào hùng của hình tượng người lính; giọng điệu bi tráng của tác phẩm ,…

Bút pháp lãng mạn thể hiện trước tiên ở sự tương phản vẻ đẹp của thiên nhiên vừa thơ mộng trữ tình, vừa dữ dội, kì vĩ của núi rừng qua nỗi nhớ của người lính Tây Tiến. Quang Dũng đã chú ý lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu nhất ẩn chứa linh hồn của miền đất này. Bút pháp tô đậm trong diễn đạt càng làm cho thiên nhiên thêm phần kì bí, huyền ảo:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Cách miêu tả những khó khăn, trắc trở do thiên nhiên vừa hết sức chân thực vừa bay bổng vô cùng. Ở đó, ta vẫn nhận thấy những trở ngại lớn, lại vừa thấy sức mạnh của con người vượt lên trên hoàn cảnh, chiến thắng thiên nhiên:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Những bước chân hụt hẫng trên dốc cao, ngàn thước bước lên cao, rồi ngàn thước dậm xuống thấp trùng trùng điệp điệp. Thiên nhiên với những khó khăn dường như luôn đợi sẵn đón bước con người. Câu thơ: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống như gãy làm đôi đã gây cho người đọc ấn tượng mạnh về mức độ hiểm trở của núi rừng trên đường hành quân của người lính. Cho đến chiều đêm, lúc người lính có thể nghỉ ngơi, những hiểm nguy vẫn không ngừng bám đuổi:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Tiếng thác rừng xa như vẫn còn réo gọi, thách thức. Thú dữ rình rập khắp mọi ngả tối. Ở đâu đó trong bóng đêm, sự nguy hiểm luôn sẵn sàng. Tưởng chừng như tất cả những điều đáng sợ ấy sẽ làm người lính run sợ, khiếp nhược. Nhưng ngược lại, họ không hề quan tâm, họ hướng tâm hồn về với bản làng ấm áp trong sương khói mơ hồ:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Thiên nhiên Tây tiến còn tiếp tục hiện lên với hình ảnh dòng sông và chiếc thuyền độc mộc:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Dường như khắp bài thơ ta chưa từng thấy ánh nắng hay ánh sáng. Bao trùm lên đó là làn sương mờ ảo, lạnh lùng. Những bờ lau hiu hắt, thê lương, ảm đạm. Trên nền cảnh ấy, con người xuất hiện nhưng hết sức đơn độc và nhỏ bé. Giữa đại ngàn bao la, con người như đóa hoa trôi vô định và lặng im. Đến khổ cuối bài thơ, tác giả nâng cảm giác ấy lên đến cùng cực:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Thiên nhiên đáng sợ nhưng cũng toát lên vẻ hùng vĩ của núi cao, rừng sâu. Bên cạnh đó còn là những hình ảnh của nơi phương xa xứ lạ khiến cho thiên nhiên vừa đẹp vừa gợi chút hoang mang. Vẻ thơ mộng trữ tình của cảnh vật hiện lên với tất cả mỹ lệ, quyến rũ, làm xao xuyến lòng người.

Bút pháp lãng mạn phát huy ưu thế trong việc xây dựng sự tương phản trong vẻ đẹp của hình tượng người lính tây tiến. Cái chết chính là điểm nhấn mạnh mẽ trong bài thơ này. Quang Dũng đã rất táo bạo khi diễn tả chân thực hình ảnh ấy. Ông không hề né tránh hay cố tô vẽ nó theo những cách khác:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Người lính chết trong tư thế hành quân. Nghĩa là họ đã chiến đấu đến tận cùng sự sống. Họ không bỏ cuộc. Họ chỉ không bước nữa. Họ không đầu hàng. Họ chỉ dừng lại khi sự sống chấm dứt. Đó là một cái chết oai hùng, lẫm liệt, đủ sức nâng cao tình yêu cuộc sống và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ở mỗi con người Việt Nam. như ý thơ của Lê Anh Xuân đã viết:

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

                                    (Dáng đứng Việt Nam)

Trên khung cảnh dữ dội của núi rừng và cuộc chiến đấu, hình ảnh người lính hiện lên thật rõ ràng quan những câu thơ vừa lãng mạn vừa chân thực:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Những khó khăn thử thách không ngăn cản được bước chân người lính trên con đường hành quân cheo leo, hiểm trở. Những nét bi thương “không mọc tóc”, ” mồ viễn xứ”.…. là nốt trầm trong bản hùng ca về những con người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” mạnh mẽ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Họ mang trong mình lý tưởng cao đẹp và tình yêu cuộc sống thiết tha. Càng yêu cuộc đời, yêu đất nước họ càng không ngại gian khổ, hy sinh. Kẻ thù hung bạo, thiên nhiên khốc liệt cũng không thể nào ngăn cản họ nhớ về đôi mắt người xưa. Từ “trừng” thể hiện lòng căm thù tột độ và sự cảnh báo của người lính đối với kẻ thù về một sự đáp trả khủng khiếp mà họ sẽ tiến hành.

Bài thơ là sự khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến đối với thời đại và đối với lịch sử. Đó là vẻ đẹp tinh thần của người vệ quốc quân thời kì đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về. Hình ảnh người lính Tây Tiến sẽ còn mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của thời đại chống thực dân Pháp

Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng tạo một dấu ấn đậm nét trong nền thơ Việt Nam thời kỳ chống thực dân Pháp. Cách khắc họa vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh, bi tráng của người lính Tây Tiến và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây qua nỗi nhớ của tác giả đã tạo nên vẻ đẹp riêng hết sức độc đáo của tác phẩm này. Bài thơ cũng cho thấy nét hồn nhiên, tinh tế, sự hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.

Bài văn Phân tích cảm hứng lãng mạn ở bài thơ Tây Tiến – Mẫu 2

Quang Dũng là nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và hào hoa. Ông đã để lại dấu ấn tên tuổi của mình trong rất nhiều sáng tác tiêu biểu trong đó có bài thơ Tây Tiến. Nhắc đến Tây Tiến người ta lại nhớ ngay đến thiên nhiên Tây Bắc cũng như hình ảnh người lính Tây Tiến một thời với bao nét đẹp mang dấu ấn đặc trưng của người lính trong cuộc kháng chiến ác liệt. Có người nói rằng: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến chính là nỗi nhớ da diết của nhà thơ Quang Dũng về Tây Tiến.

Cảm hứng chủ đạo là trạng thái cảm xúc mãnh liệt đóng vai trò quan trọng trong suốt tác phẩm văn học gắn liền với tư tưởng, đánh giá của tác giả và có một sự tác động mạnh mẽ đến người đọc. Điểm bắt đầu đến diễn biến và kết thúc của hành trình trở về với quá khứ của Quang Dũng là nỗi nhớ. Có thể nói nỗi nhớ chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả bài thơ khiến cho bài thơ càng trở nên dạt dào cảm xúc. Nỗi nhớ dẫn dắt nhà thơ trở về với nhiều điều đặc biệt là khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc và cuối cùng kết tinh của nỗi nhớ là hình ảnh người lính Tây Tiến. Nỗi nhớ hiện lên trong bài thơ mang trạng thái cảm xúc da diết sâu đậm.

Nỗi nhớ đưa nhà thơ trở về với thiên nhiên Tây Bắc vừa mang nét đẹp dữ dội, khắc nghiệt vừa trữ tình, thơ mộng. Hai nét đẹp đan xen, hòa quyện với nhau trong từng nét vẽ của nhà thơ khiến cho thiên nhiên Tây Bắc hiện lên đầy màu sắc và ấn tượng. Nỗi nhớ dồn nén như cuộn xoáy bên trong nhà thơ thúc giục nhà thơ bật ra thành tiếng gọi:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Tiếng gọi cất lên phảng phất một cảm giác trống trải, cô đơn của một người nặng lòng tha thiết với Tây Tiến. Có lẽ bắt nguồn từ cảm xúc đó, thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội được hiện lên trước hết qua hình ảnh sương núi: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Sương dày đặc và lạnh buốt nhiều đến nỗi như vùi lấp đoàn quân. Không chỉ vậy, dốc núi cheo leo, hiểm trở cũng được tái hiện lại làm tăng thêm sự ấn tượng về màu sắc dữ dội của thiên nhiên nơi đây:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Ba câu thơ vẽ ra một bức tranh thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ với hình ảnh đèo dốc quanh co “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút cồn mây”. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” câu thơ chỉ có bảy tiếng nhưng có đến năm tiếng thanh trắc, hai từ dốc được lặp lại và rồi cùng kết hợp với hai từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” gợi lên cảnh tượng đèo dốc gập ghềnh, gian nan mà hiểm trở biết bao. Nét vẽ hoang sơ, bí hiểm tiếp tục được khắc họa đâm nét qua hai câu thơ tiếp:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Cách sử dụng thủ pháp nhân hóa qua hai hình ảnh “thác gầm thét”, “cọp trêu người” nhấn mạnh sự linh thiêng, đáng sợ của nơi rừng thiêng nước độc khiến cho con người mang trong mình cảm giác rùng rợn, ghê sợ. Thiên nhiên Tây Bắc dữ dội là thế, nguy hiểm là thế nhưng cũng có khi thơ mộng nên thơ đến ngỡ ngàng:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Và rồi Tây Tiến đem lại vẻ đẹp bình yên trong làn khói:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Đậm nét hơn và trữ tình hơn có lẽ là cảnh sông nước mênh mông trong bốn câu thơ:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Đây là cảnh thiên nhiên vào một buổi chiều ở Châu Mộc có sương giăng mắc bảng lảng, mơ hồ với dòng sông thi vị nên thơ và bến bờ hoang dại với những hồn lau. Chỉ bằng vài nét gợi tả Quang Dũng đã khắc họa được một bức tranh phong cảnh với vẻ đẹp huyền ảo, xa xăm và thơ mộng cho thiên nhiên Tây Bắc. Thiên nhiên giống như một con người với những nét đẹp rất đặc trưng của Tây Bắc khiến cho người đọc không thể nào không khỏi ấn tượng.

Không chỉ thiên nhiên Tây Bắc mà hình ảnh người lính Tây Tiến và đoàn quân Tây Tiến cũng hiện lên thật đẹp trong nỗi nhớ của Quang Dũng . Nếu như thiên nhiên vừa dữ dội vừa thơ mộng, duyên dáng thì con người cũng hiện lên với vẻ đẹp mạnh mẽ, khỏe khoắn, dũng cảm nhưng cũng không kém phần lãng mạn, hào hoa. Hai vẻ đẹp đó của người lính được thể hiện sóng đôi với nhau trong từng kỉ niệm của nỗi nhớ. Nhớ về chặng đường hành quân với bao nhiêu khó khăn, gian khổ, với sương lấp, dốc núi hiểm trở hay tiếng cọp dữ tợn, người lính vẫn sẵn sàng đối mặt, chẳng hề lo lắng hay sợ hãi điều gì.

Không chỉ vậy, người lính còn tạo cho mình những giây phút thư giãn, nghỉ ngơi, để vui đùa tếu táo. Chúng ta có thể thấy điều này qua hình ảnh “súng ngửi trời”. Người lính hiện lên với sự lạc quan, yêu đời hơn bao giờ hết trước sự khắc nghiệt của cuộc hành trình. Tuy nhiên nét hào hoa, đa tài của người lính được nỗi nhớ của Quang Dũng tiếp tục gợi nhắc rõ nét hơn trong đêm liên hoan thắm thiết tình quân dân:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Cảnh vật và con người trong đêm liên hoan quả thực đem lại một sự cuốn hút kỳ lạ đối với những người lính. Những người lính say sưa theo tiếng khèn điệu nhạc, tâm hồn của họ tràn đầy ý thơ và mơ tưởng đến ngày mai vui tươi ở Viên Chăn. Chính đêm liên hoan thắm thiết tình quân dân này lại là nguồn động viên an ủi tinh thần khiến cho người lính vượt lên trên sự tàn khốc của chiến tranh.

Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến còn hiện lên trong nỗi nhớ của Quang Dũng qua bốn câu thơ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Chân dung người lính được khắc họa thật đặc biệt bằng những nét vẽ thật khác thường như “không mọc tóc”, “xanh màu lá”, “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng”. Nhưng tất cả những điều này lại bắt nguồn từ chính đời sống thực tế đầy khắc nghiệt và gian khổ. Trước sự thật đó Quang Dũng không hề né tránh mà tái hiện thật tài tình bằng màu sắc lãng mạn : “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”. Cách nói của Quang Dũng cho thấy khẩu khí ngang tàng của những người lính trẻ, hồn nhiên : tóc không thèm mọc chứ không phải tóc không mọc được do sốt rét rừng. Nơi rừng thiêng nước độc thiếu thốn đủ đường không thể có thuốc men đủ đầy nên “quân xanh màu lá” cũng là một điều dễ hiểu. Nỗi nhớ về “dáng kiều thơm” như một yếu tố để cân bằng lại đời sống nội tâm của người lính sau những tháng ngày hành quân vất vả chứ không phải là sự yếu đuối như một số người vẫn nhầm tưởng. Bằng việc sử dụng những từ ngữ khắc họa tài tình Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài cụ thể về cả vẻ bề ngoài đầy ấn tượng và tâm hồn bên trong với sự lãng mạn, hào hoa.

Người lính dũng cảm, can trường, hào hoa nhưng cũng toát lên vẻ đẹp bi tráng của thế hệ thanh niên đầy nhiệt huyết. Ngòi bút của Quang Dũng đã phác họa thành công bức tượng đài về người lính Tây Tiến nhưng không hề đưa người đọc vào sự bi thương mà luôn ngời sáng vẻ đẹp hào hùng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Nỗi bi thương dường như được giảm nhẹ đi bởi việc nhà thơ sử dụng các từ Hán Việt như “biên cương”, “viễn xứ”. Mặt khác cái bi thương đó lại bị mờ đi bởi lí tưởng khát vọng chiến đấu quên mình của người lính: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Sự bi thương trong cái chết tiếp tục được nâng đỡ nhờ cách nói giảm nói tránh “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Về đất là về với đất mẹ thân yêu, về với tất cả những gì bình dị nhất và thân thiết nhất. Tiếng sông Mã gầm lên như tạo nên một bản nhạc riêng, độc đáo dành riêng cho người lính Tây Tiến.

Với việc lựa chọn ngôn ngữ chính xác, tinh tế cùng với những hình ảnh thơ độc đáo mới mẻ, nhà thơ đã vẽ lại một bức tranh với đường nét mềm mại và nét khỏe khoắn. Nỗi nhớ phải chân thành lắm, tình yêu phải sâu đậm lắm thì Quang Dũng mới có thể tạo nên bức tranh mà khi nhìn vào đó người đọc không khỏi ngỡ ngàng.

Tây Tiến là nỗi nhớ của một con người thủy chung. Nỗi nhớ đó đưa nhà thơ trở về với những kỉ niệm đẹp đẽ chẳng thể nào quên. Dù nhớ về kỉ niệm nào thì cảm xúc của nhà thơ cũng thật mãnh liệt, thật chân thành và da diết. Phải là một người yêu và quý trọng những kỉ niệm thì mới có thể viết được những vần thơ như vậy.

Bài văn Phân tích cảm hứng lãng mạn ở bài thơ Tây Tiến – Mẫu 3

Có một thời, nhắc đến khái niệm “lãng mạn” người ta thường đồng nhất nó với những gì xa rời thực tế, cá nhân, tiêu cực, mềm yếu… và người ta phản đối, phê phán, thậm chí tẩy chay nó. Nhưng nếu xét đến tận cùng, phần lãng mạn ấy không thể thiếu trong đời sống tinh thần, trong tâm hồn con người và cái gọi là “lãng mạn” ấy cũng thật nhiều vẻ, nhiều hình. Nó có thể làm con người ta nhỏ lại yếu hèn đi nhưng cũng có thể đem đến cho con người có sức mạnh phi thường để làm nên những điều phi thường. Ta bắt gặp sức mạnh lãng mạn ấy qua Tây tiến của Quang Dũng – một tác phẩm mang đậm chất sử thi, đậm chất lãng mạn anh hùng, lãng mạn cách mạng.

Có thể nói, cuộc sống tinh thần của mỗi con người hay cả một cộng đồng dân tộc sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và nhàm chán biết bao nếu thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi những ước mơ bay bổng , thiếu đi tưởng tượng phong phú, diệu kỳ… Lãng mạn hiểu theo nghĩa đúng đắn, chắp cánh cho những ước mơ, thúc giục con người hướng tới cái đẹp, cái cao cả và sự hoàn thiện mà hiện thực cuộc sống còn chưa đạt tới. Chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến chính là cảm hứng bay bổng của nhà thơ hướng tới vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của thiên nhiên và con người Tây Bắc, Vẻ đẹp được cảm nhận từ một hiện thực gian khổ và đầy khốc liệt, khó khăn. Chính vì thế, chất lãng mạn của bài thơ càng đáng chân trọng, nâng niu. “Nói” đúng hơn, chính nhờ chất lãng mạn ấy mà người lính Tây Tiến có thể vượt qua được mọi vất vả gian lao, mọi khó khăn thử thách. Chất lãng mạn trong Tây Tiến xuất hiện dường như để lại “thăng bằng” cho cảnh vật và tâm hồn của con người. Vì thế bên cạnh một thiên nhiên hiểm trở, dữ dằn, những núi đá cheo leo, những cảnh rừng thiêng nước độc… ta lại thấy một thiên nhiên thơ mộng đến say người, một Tây Bắc đẹp như tranh thuỷ mạc. Nỗi nhớ Tây Tiến trong lòng nhà thơ cứ “chơi vơi” giữa hai gam màu ấy. Còn gì dữ dội và hiểm trở hơn những cảnh:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời..”

Còn gì hoang dại và âm u, rùng rợn hơn tiếng thác gào và tiếng cọp gầm:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhưng liền đó lại là những cảnh rất đỗi nên hoạ, nên thơ. Đó là chiều sương Mộc Châu, là “hồn lau” thấp thoáng “nẻo bến bờ”, là dáng người mảnh mai mềm mại trên chiếc thuyền độc mộc:

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Rõ ràng thiên nhiên Tây Bắc ở đây được cảm nhận với một vẻ độc đáo: vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa tươi tắn, thơ mộng. Mà không chỉ thiên nhiên, chất lãng mạn bay bổng còn thể hiện rõ khi tác giả khắc họa chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mỹ lệ ấy của núi rừng Tây Bắc. vẫn là đối chọi để “cân bằng” giữa một bên là hiện thực khắc nghiệt, là cuộc sống đầy gian nan và lắm hy sinh mất mát, với một bên là cuộc sống tươi đẹp và đầy chất thơ. Này đây là những vất vả, gian lao của cuộc đời người lính Tây Tiến: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”, “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục sũng mũ bỏ quên đời!”. Hình ảnh đoàn quân “không mọc tóc” với nước da “xanh màu lá” là kết quả của những trận sốt rét triền miên. Những nấm mồ “rải rác” khắp “biên cương” và cảnh người lính ngã xuống không manh chiếu liệm v.v… đủ nói lên tất cả gian khổ cùng cực của cuộc chiến đấu mà người lính phải gánh chịu. Nhưng nếu chỉ có thế, sức mạnh của hiện thực sẽ đè nát ý chí và tâm hồn người chiến sĩ. Chính cảm hứng lãng mạn đã truyền niềm tin đi những người lính Tây Tiến khiến các anh sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của minh cho Tổ quốc “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Trong cái gian khổ khắc nghiệt trên, bỗng thoảng hương của nếp xôi của những cô gái xứ Mai Châu. Ta nao nao, say người trong đêm lửa trại giữa “hội đuốc hoa”, khi bắt gặp trong mơ hình ảnh “nàng e ấp” trong xiêm áo lộng lẫy và tiếng khèn man điệu hoang dại của núi rừng. Nhiều khi sự cân bằng, đối chọi giữa hai màu sắc – hiện thực và lãng mạn – thể hiện ngay trong từng câu thơ, từng đoạn thơ. Vừa thấy rợn người, trên độ cao ngàn thước chênh vênh bên bờ vực thẳm “ngàn thước xuống” đã lại thấy lòng thanh thản ngắm nhìn qua cơn mưa thanh bình nhà ai đó thoáng ở lưng núi Pha Luông. Vừa thấy hiện lên trước mắt hình ảnh: “Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi” rất hiện thực, đã lại chuyển sang hình ảnh đầy chất thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Câu thơ lung linh huyền ảo với hàng loạt thanh bằng (6/7) đã ảo hóa hiện thực. Người đọc chỉ cảm nhận được cái gì đó nhẹ nhàng, bâng khuâng, chơi vơi như nỗi nhớ, bảng lảng như sương chiều, xua tan đi mệt mỏi của đoàn quân. Cũng như thế ở câu trên ta vừa thấy sự uất hận của người lính Tây Tiến gửi hai chữ “mắt trừng” thì ngay sau đó “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” một câu thơ cũng phần lớn dùng thanh (5/7). Tính chất lãng mạn của bài thơ còn thể hiện ở một phương diện Đó là chất bi tráng. Dường như vẫn là một cặp đối chọi nhau. Bi mà không lụy, buồn đau mà hùng tráng, mất mát hy sinh mà vẫn lạc quan. Không bi sao trước những gian nan đến ghê người, những cơn sốt rét, nước da xanh lá và tóc rụng không mọc lại được; không bi sao được trước những mất mát hy sinh “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Tuy nhiên bi mà không lụy, bi mà tráng, mạnh mẽ quân xanh màu lá mà vẫn giữ oai hùm. Ngay trong một bài thơ ta đã thấy rõ tính chất này: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Một sự ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, ung dung. Giọng thơ muốn hạ xuống cung bậc thấp phù hợp với nỗi tiếc thương. Nhưng hạ thấp là để mà cuối cùng vút lên bản nhạc dữ dội và hùng tráng: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Những mất mát đau thương của con người như dồn nén, tích tụ ương tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Ai bảo lãng mạn như thế là tiêu cực, là mềm yếu. Thực chất, chính chất lãng mạn của bài thơ đã nâng được người đọc lên, vực dậy những người lính mệt mỏi đang dãi dầu không bước nữa, xoá tan đi bao nhọc nhằn đau khổ, lãng quên đi bao nỗi hiểm nguy và lấy lại cân bằng tâm hồn người lính, giúp họ vững bước đi lên… Chất lãng mạn ấy là sức và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

Đọc Tây tiến của Quang Dũng ta bắt gặp cảm xúc lãng mạn anh hùng thăng hoa cái nền hiện thực, bắt gặp sức mạnh tinh thần mà những vần thơ lãng mạn ấy đem lại cho người lính binh đoàn Tây Tiến. Nó là nét đẹp vĩnh hằng trong tâm hồn người lính và trong thơ ca kháng chiến.

>>> Xem thêm: Biện pháp tu từ trong bài Tây Tiến

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết