• Trang chủ
  • Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước (hay nhất)
wp-content/uploads/2021/12/nothumb-best-featured.png

Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước (hay nhất)

Tuyển chọn những bài văn hay Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước. Với những bài văn mẫu đặc sắc, chi tiết dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước 

1. Mở bài

– Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ mặc áo lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, trữ tình — chính luận. Trường ca Mặt đường khát vọng là một trong những thi phẩm viết về đề tài đất nước trong những năm chiến tranh. Tác phẩm đã để lại nhiều dấu ấn đặc sắc trong lòng người đọc, đặc biệt chương Đất Nước có nhiều đoạn hay và được nhiều người yêu thích. Trong đó tác giả bày tỏ cảm nhận, nhận thức của mình về đất nước: Đất Nước của Nhân dân, Nhân dân làm ra Đất Nước. Từ đó thức tỉnh nhận thức của tuổi trẻ về Đất Nước trong những năm chống Mĩ cứu nước và vai trò, trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc – Đất Nước.

– Đoạn thơ được phân tích sau đây là hội tụ, là đỉnh cao của tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”.

2. Thân bài

– Quan niệm về đất nước qua mỗi thời đại.

+ Thời trung đại, đất nước gắn liền với đế vương: “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư”, gắn với các triều đại (Đinh, Lí, Trần, Lê…) nhưng một số tướng lĩnh, quan lại như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đã nhận thấy vai trò to lớn của nhân dân đối với đất nước. Trần Hưng Đạo đã từng dâng kế sách cho vua: muốn đánh thắng giặc phải biết khoan thư sức dân, sâu rễ bền gốc trong dân. Nguyễn Trãi đã thấy: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói: “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản”.

+ Thòi cận đại, Phan Bội Châu cũng nhận định: “Dân là dân nước, nước là nước dân”, “Một lãnh thổ không thể gọi là đất nước nếu không có nhân dân”.

+ Thời đại Hồ Chí Minh: Bác luôn nhắc nhở Đảng ta lấy: “Dân là gốc”.

=> Như vậy, dù ờ thời đại nào thì các nhà tư tưởng lớn vẫn nhìn thấy vai trò, sức mạnh to lốn của nhân dân đối vối đất nước. Nhân dân gánh trên đôi vai của mình đất nước đi suốt cuộc trường chinh cũng như những cuộc khai khẩn đất đai, mở mang bờ cõi làm ra đất nước… Điều này cũng được các nhà văn, nhà thơ hiện đại ý thức sâu sắc hơn ai hết.

  • Khi dân tộc ta tiến hành hai cuộc trường chinh vĩ đại chống Pháp và Mĩ, tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được ý thức rõ hơn trong các tác phẩm. Nhưng phải đến Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm tinh thần ấy mới càng được sáng rõ. Nó đem lại cho người đọc nhận thức về đất nước một cách cụ thể, sâu sắc, thấm thìa, toàn diện hơn: “Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân/ Đất Nước của ca dao, thần thoại”.
  • Nếu như các phần trước của trích đoạn Đất Nước, nhà thơ lí giải: Đất Nước có từ bao giờ? Đất Nước là gì? Đất Nước ở đâu? thì ở phần này, nhà thơ tiếp tục lí giải Ai làm ra Đất Nước?

+ Thực ra xuyên suốt mạch cảm xúc trong chương Đất Nước là tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Tư tưởng ấy được triển khai trên những bình diện: địa lí, lịch sử, văn hóa, truyền thông, tinh thần của dân tộc thật thú vị, độc đáo. Nét nổi bật trong phần cuối này vẫn tiếp tục trên những phát hiện ấy nhưng các yếu tố văn hóa, văn học dân gian lại được vận dụng rất sáng tạo trong tư duy hiện đại, tạo ra màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc vừa mới mẻ.

  • Mười hai câu là sự hoá thân của nhân dân vào đất nước:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn nằm đi đâu ta cũng thấy

  • Những cuộc đời đã hoá núi sông ta… ”

+ Phát hiện mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về những cảnh quan kì thú của non sông gấm vóc: đá Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên… không chỉ là tặng vật của thiên nhiên tạo hóa mà đã gắn với cuộc sống con người, với văn hóa, lịch sử của dân tộc qua những áng ca dao, những truyền thuyết, cổ tích; qua những cuộc vệ quốc vĩ đại của nhân dân.

  • Nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng qua những cuộc chiên tranh li tán thì làm sao có được cảm nhận về những đá Vọng Phu.
  • Nếu không có truyền thuyết về người anh hùng Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc thì làm sao có cảm nhận về những ao đầm để lại chính là gót ngựa của Người.
  • Nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì làm sao có được cảm nhận về vẻ đẹp hùng vĩ của núi non quanh đất Phong Châu như chín mươi chín con voi chầu về đất Tổ.
  • Nét đặc sắc ở đây, cái nhìn của nhà thơ thấm sâu ý thức về nhân dân. Sự hóa thân của nhân dân vào Đất Nước: những người vợ chờ chồng như đá Vọng Phu, cặp vợ chồng yêu nhau như hòn Trống Mái; những học trò nghèo nhưng hiếu học qua hình tượng núi Bút, non Nghiên; những tên đất tên làng như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… thật bình dị nhưng họ là những người làm nên Đất Nước.

=> Nhà thơ không cảm nhận những cảnh quan kì thú đơn thuần là thắng cảnh thiên nhiên mà trong đó là chiều sâu số phận, cảnh ngộ, công lao của mỗi người đã đóng góp, hóa thân vào Đất Nước. Đất Nước thấm sâu tâm hồn, máu thịt của nhân dân.

  • Từ đó nhà thơ đưa đến một khái quát sâu sắc giàu chất suy tư và triết luận về sự hoá thân của nhân dân vào đất nước:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

=> Thế giối nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm là thế giới vừa mộc mạc, dân dã, vừa đẹp lấp lánh những chất liệu văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian đã thấm vào ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng trong đoạn thơ, để hình tượng nhân dân hiện diện khắp nơi trên ruộng đồng gò bãi, trong lối sống, trong ao ước, khát vọng, trong suốt dọc dài đất nước hơn 4000 năm… đã trở thành chủ nhân, linh hồn của lịch sử dân tộc, của đất nước.

  • Đoạn còn lại 34 câu: dồn nén, hội tụ đỉnh cao của cảm xúc trữ tình – Đất Nước của Nhân dân – Đất Nước của ca dao, thần thoại.

Đi suốt cuộc trường chinh đầy máu lửa của dân tộc là hình tượng nhân dân anh hùng, những con người vô danh – họ là lực lượng nòng cốt xây dựng, bảo vệ làm ra đất nước.

+ Nhìn về bốn nghìn năm lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm không ngợi ca các triều đại: Đinh, Lí, Trần như trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; không nói đến những anh hùng lưu danh sử sách như Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung… trong Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh, mà tập trung nói đến những con người vô danh, bình dị:

 “Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn nghìn năm Đất Nước

Năm tháng nào củng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Nhưng em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”

  • Vẫn giọng điệu tâm tình, tha thiết “Em ơi em”, Nguyễn Khoa Điềm hướng người đọc nhìn về chiều sâu quá khứ bốn ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước của nhân dân. Năm tháng nào cũng người người, lớp lớp , họ bằng tuổi chúng ta bây giờ, khi đất nước hòa bình, họ cần cù lao động; khi đất nước có chiến tranh, họ sẵn sàng xả thân, bất luận con trai hay con gái, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, hiến trọn tuổi thanh xuân cho đất nước được hòa bình. Biết bao nhà thơ đã viết về họ:

“Chúng con đi từng trận gió rừng

Cả thế hệ xoay trần đánh giặc”.

“Chúng tôi đi không tiếc đời mình

(Nhưng tuổi hai mươi thì làm sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”

                                                            (Thanh Thảo) 

  • Thế đấy! Họ đã sống và chết, giản dị và bình tâm, họ đã trở thành anh hùng, không ai nhớ mặt đặt tên chỉ giản đơn như người ta thường gọi: chiến sĩ vô danh nhưng họ là những người bất tử, hoá thân cho dáng hình xứ sở trường tồn.

+ Không chỉ lao động, bảo vệ và xây dựng đất nước, nhân dân còn có trách nhiệm truyền lại cho con cháu mai sau những giá trị văn hoá, tinh thần, vật chất của đất nước: từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên làng, tên đất; từ việc phải biết cấy trồng, đắp đập be bờ, giữ gìn cuộc sống đến việc chống thù trong, giặc ngoài giữ yên đất nước. Từ đó, nhà thơ đưa ta đến tư tưởng ngọn nguồn của vẻ đẹp văn hóa dân gian: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân/ Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao, thần thoại”.

  • Đây là điểm hôi tụ và cũng là đỉnh cao của cảm xúc trữ tình tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” – Cụm từ được lặp đi lặp lại như nhấn mạnh, khắc sâu vào tâm trí người đọc về tinh thần ấy. Cái mới mẻ trong cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm so với thơ chống Mĩ là cách nhìn rất tự nhiên, trở về với ngọn nguồn của dân tộc: “Đất Nước của Nhân dân – Đất Nước của ca dao thần thoại”.

+ Thật giản dị và độc đáo, cả kho tàng ca dao dân ca, nhà thơ chỉ chọn ba câu nói về ba phương diện quan trọng của vẻ đẹp tâm hồn, tính cách và truyền thống dân tộc:

“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. 

  • Thật đắm say trong tình yêu.
  • Biết quý trọng tình nghĩa.
  • Quyết liệt trong căm thù và chiến đấu.

=> Nguyễn Khoa Điềm không lặp lại nguyên văn những câu ca dao mà chỉ sử dụng ý và hình ảnh để gợi nhớ về ca dao, để nói lên phẩm chất đẹp đẽ, anh hùng của nhân dân, đất nước mình. Thật thú vị, những nét đẹp tâm hồn ấy thấm đẫm trong thi liệu dân gian được nhà thơ vận dụng thật khéo léo, tài hoa. Phải là người thấu hiểu, trân trọng giá trị văn hóa dân tộc đến độ máu thịt, nhà thơ mới có thể có cái nhìn sâu sắc, mới mẻ đến vậy trong quan niệm “Đất Nước của Nhân dân”.

3. Kết bài

– Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” cũng đã được các nhà thơ trẻ nhận thức sâu sắc về vai trò, về những đóng góp, những hi sinh to lớn của nhân dân trong các cuộc đấu tranh lâu dài, ác liệt của dân tộc. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm một thành công trong dòng thơ về đất nước thời chống Mĩ, làm sâu sắc hơn về nhận thức tư tưởng ấy.

– Với cảm xúc trữ tình – chính luận vừa sâu lắng vừa giàu chất suy tư, với hình thức trò chuyện tâm tình tha thiết của đôi trai gái, nhà thơ đã gợi ra được cả không khí, không gian nghệ thuật đầy màu sắc sử thi, có tác dụng đưa người đọc vào thế giới của truyền thuyết của ca dao, thần thoại nhưng lại mới mẻ trong cách cảm nhận và hình thức thơ tự do, phóng khoáng. Từ đó có nhận thức đúng về đất nước và trách nhiệm của mỗi công dân đối với đất nước, Tổ quốc trong mọi thòi đại.

Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước – Bài mẫu

Chương Đất Nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng là sự cảm của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò và những hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc. Cũng như những nhà thơ trẻ tiêu biểu của thời kỳ chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy ngẫm của mình về nhân dân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca này.

Tư tưởng chủ đạo nói trên được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện bằng một hình thức thơ trữ tình – chính luận. Cái lý lẽ mà tác giả đưa ra nhằm thuyết phục người đọc thật giản dị: Không phải ai khác mà chính nhân dân – những người vô danh – đã kiến tạo và bảo vệ, giữ gìn đất nước, đã xây dựng nên những truyền thống vãn hoá, lịch sử hàng ngàn đời của dân tộc. Lý lẽ ấy nhà thơ không phát biểu một cách khô khan, trừu tượng mà bằng hình ảnh gợi bằng giọng thơ sôi nổi tha thiết của mình. Thông qua những vần thơ kết giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước thế hệ trẻ trong những năm chống Mĩ.

Mượn hình thức trò chuyện tâm tình với một người con gái yêu thương, kết cấu chương V của bản trường ca có vẻ phóng túng, tự do, nhưng từ trong chiều sâu của cảm hứng của mỗi phần vẫn bám rất chắc vào tư tưởng cốt lõi: Đất nước nhân dân. Tư tưởng đó được nhà thơ thể hiện cụ thể, sinh động và được triển trên các bình diện: trong chiều dài của thời gian (thời gian đằng đẵng) và bề dày của truyền thống văn hoá, phong tục, tâm hồn và tính cách dân tộc. Ba phương diện ấy gắn bó, hoà quyện, thống nhất chặt chẽ với nhau trong một “hệ quy chiếu”. Đất nước của nhân dân vốn là linh hồn của cả bài thơ.

Cả chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng như được bao bọc bởi không khí của văn hoá dân gian. Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rộng rãi và linh hoạt các chất liệu của văn hoá dân gian, từ ca dao, tục ngữ đến truyền thuyết, cổ tích, từ phong tục tập quán đến thói quen sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Những chất liệu ấy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa gần gũi, quen thuộc, vừa sâu xa, kì diệu, đủ gợi lên được cái hồn thiêng của non sông, đất nước. Điều đó không đơn thuần chỉ là thủ pháp nghệ thuật, cũng không phải chỉ là một tiếp thu có sáng tạo vãn học dân gian. Có thể nói, tư tưởng Đất nước của Nhân dân là tư tưởng chủ đạo của bài thơ – đã thấm nhuần từ quan niệm đến cảm xúc, từ hình tượng đến chi tiết nghệ thuật của bài thơ.

Phần đầu của bài thơ này, có thể xem là một định nghĩa về đất nước. Cố nhiên là định nghĩa theo cách riêng của thơ, được phát biểu thông qua những hình tượng cụ thể, sinh động, đầy gợi cảm.

Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết, ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người: Đất nước hiện hình lên qua những lời kể chuyện của mẹ, qua “miếng trầu bây giờ bà ăn”, qua cái kèo, cái cột, qua hạt gạo miếng cơm ta ăn hàng ngày.

Đất nước không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của anh và em:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung của cộng đồng, của đất nước. Đó là tư tưởng chung của thời đại khi mà vấn đề dân tộc nói lên như một vân đề khác. Trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gì khác mà cũng chính là trách nhiệm đối với chính bản thân mình:

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san xẻ,

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở,

Làm nên Đất Nước muôn đời.

Đất nước còn được hình thành từ những truyền thống lịch sử, văn hoá, phong tục hàng ngàn đời của dân tộc. Nhà thơ đã khai thác ý nghĩa các thành tố Đất Nước trong mối quan hệ với không gian và thời gian, với lịch sử và hiện ta. Chiều sâu của lịch sử, truyền thống, phong tục và văn hoá của đất nước được gợi lên từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương với ngày giỗ tổ, từ những câu ca dao quen thuộc, ở đây, đất nước được cảm nhận như là sự thống nhất của các phương diện truyền thống, vãn hoá, phong tục rất thiêng liêng song cũng rất gần gũi với cuộc sống của mỗi con người. Những giá trị tinh thần bền vững ấy của đất nước đã gắn liền với quá khứ, hiện tại với tương lai, được nuôi dưỡng qua các thế hệ:

Những ai đã khuất,

Những ai bây giờ,

Yêu nhau và sinh con đẻ cái,

Gánh vác phần người đi trước để lại.

Dặn dò con cháu chuyện mai sau,

Hằng năm ăn đâu nằm đâu,

Cũng biết cúi đầu nhớ – ngày giỗ Tổ.

Từ những quan niệm về đất nước như vậy, đến phần sau của bài thơ, tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng. Đất Nước của nhân dân, chính nhân dân là người sáng tạo ra Đất Nước.

Tư tưởng đó đã dẫn đến một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, những danh lam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước. Những núi Vọng Phu những hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa, mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, hoá thân của những con người không tên, không tuổi: “Những người vợ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau nên hòn Trống Mái”. “Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình Bút non Nghiên”. Cả đến “Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”, ở đây, cảnh vật của thiên nhiên đất nước qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này, từ những hình ảnh, những cảnh vật, hình tượng cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha,

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy,

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.

Tư tưởng Đất nước của Nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ngợi ca các triều đại, cũng không nói tới những anh hùng đã được ghi lại trong sử sách mà chỉ tập trung nói tới những con người vô đanh, bình thường, bình dị. Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người bình dị, vô danh đó:

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.

Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ giữ gìn và truyền lại cho các thế mai sau những giá trị văn hoá, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước lại lúa, ngọn lửa, tiếng nói, lên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, những câu ca dao, tục ngữ. Mạch cảm xúc, suy nghĩ của bài thơ cứ dồn tụ dần để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của bài thơ vừa bất ngờ vừa giản dị và độc đáo:

Đất Nước này là Đất nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân,

Đất Nước của ca dao, thần thoại.

Đọc chương Đất Nước, có thể thấy rõ dấu ấn của vốn tri thức văn hoá nhà trường và sách vở, sự ảnh hưởng phong cách của một nhà thơ nào đó. Tuy nhiên, đó vẫn là chương tiêu biểu và tinh tuý nhất của trường ca Mặt đường khát vọng. Bài thơ vẫn tạo nên được những rung động âm vang trong lòng người đọc là nhờ tác giả từ những cảm xúc chân thành, từ sự trải nghiệm của bản mà nói lên những suy nghĩ chung của cả thế hệ mình về đất nước.

—/—

Trên đây là các bài văn mẫu Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước do THPT Trịnh Hoài Đức sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết