• Trang chủ
  • Bài ca ngắn đi trên bãi cát giáo án
wp-content/uploads/2021/12/nothumb-best-featured.png

Bài ca ngắn đi trên bãi cát giáo án

Bài ca ngắn đi trên bãi cát giáo án

Giáo án Bài ca ngắn đi trên bãi cát – Mẫu 1

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

           ( Sa hành đoản ca)

                                                                           Cao Bá Quát

I. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ   

a. Kiến thức

– Nắm được trong hoàn cảnh nhà Nguyễn trì trệ, bảo thủ, Cao Bá Quát tuy vẫn đi thi nhưng đã tỏ ra chán ghét con đường mưu cầu danh lợi tầm thường. Bài thơ biểu lộ tinh thần phê phán của ông đối với học thuật và sự bảo thủ trì trệ của chế độ nhà Nguyễn nói chung, góp phần lí giải hành động khởi nghĩa của ông về sau vào năm 1854

– Nắm được trong hoàn cảnh nhà Nguyễn trì trệ, bảo thủ, Cao Bá Quát tuy vẫn đi thi nhưng đã tỏ ra chán ghét con đường mưu cầu danh lợi tầm thường. Bài thơ biểu lộ tinh thần phê phán của ông đối với học thuật và sự bảo thủ trì trệ của chế độ nhà Nguyễn nói chung, góp phần lí giải hành động khởi nghĩa của ông về sau vào năm 1854

– Hiểu được mối quan hệ giữa nội dung nói trên và hình thức nghệ thuật cả bài thơ cổ thể về nhịp điệu, hình ảnh…Các yếu tố hình thức này có đặc điểm riêng phục vụ cho việc chuyển tải nội dung.

b. Kĩ năng

– Rèn luyện và củng cố cách đọc hiểu, phân tích một văn bản văn học trung đại.

c. Tư duy, thái độ

Trân trọng nhân cách cao đẹp của Cao Bá Quát.

2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh

– Năng lực tự học.

– Năng lực thẩm mĩ.

– Năng lực giải quyết vấn đề.

– Năng lực hợp tác, giao tiếp.

– Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

– Năng lực tổng hợp, so sánh.

II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN

1. Giáo viên: SGK, SGV, thiết kế dạy học, tài liệu tham khảo…

2. Học sinh:  Sách giáo khoa; Vở soạn; Vở ghi.

III.  CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi. Kết hợp các phương pháp dạy bài thơ cổ: đọc diễn cảm văn bản, so sánh bản dịch với nguyên bản chữ Hán, phân tích từ ngữ, phân tích hoàn cảnh lịch sử, phân tích khía cạnh văn hoá mà bài thơ đặt ra.

IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1. Ổn định tổ chức

 2. Kiểm tra bài cũ:

– Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” (Cao Bá Quát).

– Phân tích hình ảnh bãi cát và  người đi trên bãi cát.

3. Bài mới

A. Hoạt động khởi động

Ở tiết trước, trong phần tìm hiểu chung, ta đã tìm hiểu vài nét về Cao Bá Quát- một nhà thơ tài năng, bản lĩnh, một nhà nho có nhân cách cứng cỏi “ nhất sinh đê thủ bái mai hoa”- ở đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai, một đứa con ngỗ nghịch của chế độ phong kiến đương thời- một nhà nho đỗ đạt, làm quan cuối cùng lại khởi nghĩa chống lại triều đình. Nguyên nhân nào đã dẫn đến hành động quyết liệt ấy, thơ văn của Cao Bá Quát sẽ trả lời chúng ta và tác phẩm “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” chúng ta đang tìm hiểu cũng sẽ phần nào giúp chúng ta lí giải hành động đó.

B. Hoạt động hình thành kiến thức mới 

Hoạt động của GV và HS

Nội dung cần đạt

GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản thông qua trao đổi, thảo luận nhóm.

Gv hướng dẫn hs tìm hiểu tâm trạng và suy nghĩ của lữ khách đi trên bãi cát:

Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết của 6 câu thơ:

“ Không học được tiên ông phép ngủ…

Người say vô số tỉnh bao người”

Gv cho hs thảo luận trình bày theo nhóm.

Định hướng:

Tâm trạnh người lữ khách trên bãi cát như thế nào?

Tâm trạng đó dược bộc lộ như thế nào?

-GV dẫn dắt: Nhưng tại sao CBQ lại tự trách mình cứ phải đeo đuổi mãi chuyện công danh.  Công danh là hai tiếng vô cùng quan trọng với các nhà nho thuở trước, vì họ quan niệm đã là thân nam nhi thì phải khẳng định được vị thế tồn tại của mình giữa cuộc đời, phải phấn đấu lập công và lập danh

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với  núi sông

Liệu có phải nhà thơ thấy chán nản mệt mỏi vì thi mãi không đỗ không, hay vì thấy con đường công danh quá gian nan, quá vất vả. Ta sẽ lí giải được điều đó khi tìm hiểu 4 câu tiếp

-Em hiểu cụm từ “phường danh lợi” như thế nào?

HS trả lời, GV nhận xét

-GV dẫn dắt: không những trăn trở về hiện thực mà bằng con mắt tỉnh táo, nhà thơ còn phát hiện ra một vấn đề lớn lao hơn,cấp thiết hơn. GV đọc hai câu tiếp

-Hai câu tiếp cho em những hình dung gì?

Hình ảnh về một quán rượu ngon, mọi người say men rượu mà đổ xô đến

Từ đó phát hiện biện pháp nghệ thuật được sử dụng

-Có người cho rằng hai câu thơ này chính là đánh giá rất sắc sảo của CBQ về xã hội ông đang sống. Em nghĩ như thế nào?

-Cả 6 câu thơ cho thấy, CBQ đã nhận ra điều gì về con đường công danh mà mình đang theo đuổi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phân tích ý nghĩa biểu tượng của khúc đường cùng? Tâm trạng nhà thơ?

 

 

 

 

-Các hình ảnh thiên nhiên lại được xuất hiện để nói lên điều gì?

 Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện vừa là cảnh thực vừa bao hàm nghĩa tượng trưng: những con đường đi tới đều đầy khó khăn hiểm trở

 

 

 

 

-Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi tu từ.Có người cho rằng câu hỏi đó thể hiện sự bế tắc tuyệt vọng, cô đơn của nhà thơ.Em nghĩ thế nào?

 

GV mở rộng: âm hưởng bi kịch bao trùm bài thơ: bi kịch của một nhà nho nhận thức được sự trì trệ, lạc hậu của chế độ nhưng không tìm ra lối thoát- nhưng hiệu quả mà nó mang lại thì có ý nghĩa tích cực. Độc giả có thể qua đó mà thêm lòng tin vào phẩm hạnh , dũng khí của con người.Dù gặp bao thách thức trong đời sống, nó vẫn tồn tại, vẫn sống mạnh mẽ và bảo vệ những lí tưởng nhân văn cao đẹp

Bài ca ngắn nhưng ý nghĩa có thể vô hạn “anh đứng làm chi trên bãi cát”, câu hỏi mà nhà thơ tự đặt cho mình từ thế kỉ 19, giờ đây đang được đặt lại trước lương tâm của mọi độc giả, một câu hỏi vẫn đầy tính thời sự: thúc giục, khuyến khích con người hành động

 

 

 

 

GV hướng dẫn HS tổng kết.

 

Nhận xét giá trị nghệ thuật trong bài thơ?

 

 

 

 

 

 

 Qua phân tích bài thơ em hãy nêu ý nghĩa của bài thơ?

HS đọc ghi nhớ SGK.

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc hiểu văn bản

2. Tâm trạng và suy nghĩ của lữ khách khi đi trên bãi cát

“Không học được….giận khôn vơi”

Nhịp điệu đều, chậm, buồn: tác giả tự giận mình không có khả năng như người xưa, mà phải tự hành hạ mình, chán nản mệt mỏi vì công danh- lợi danh.

Hai câu thơ là lời tự trách

Tự trách mình không học được phép ngủ- đó chính là sự thờ ơ trước cuộc đời, nhắm mắt trước bao cảnh trái tai gai mắt, bao cảnh lầm than của người dân do sự trì trệ bảo thủ của chế độ phong kiến mà nên. Lời tự trách mình này cũng toả sáng nhân cách CBQ, một trí thức lớn không biết ngủ, luôn tỉnh táo trước việc đời

Đồng thời còn trách mình đã thấy con đường công danh là mịt mờ rồi mà vẫn phải vẫn vả đeo đuổi nó

Nhà thơ tự đặt ra một lối thoát là trong cuộc đi vô tận đó, nếu người ta có thể ngủ được theo phép thuỵ du của những ông tiên thì may ra mọi nỗi thống khổ mới chấm dứt. Dường như nhà thơ tự trách mình vì không có khả năng như người xưa, chán nản, mệt mỏi vì tự mình phải hành hạ thân xác mình trên con đường đeo đuổi công danh

 

– “Xưa nay phường….bao người”

– Câu hỏi tu từ, hình ảnh gợi tả(hơi men)

→ Sự cám dỗ của danh lợi đối với con người. Vì công danh, lợi danh mà con người bôn tẩu ngược xuôi.Danh lợi cũng là thứ rượu thơm làm say lòng người.

“Phường danh lợi” : những kẻ coi công danh là con đường tìm kiếm phú quý vinh hoa (mồi danh lợi, bả công danh).

CBQ đã nhắc đến loại người này với sự chán ghét, khinh bỉ

à từ ý thơ nói về phường danh lợi, người đọc hiểu ra niềm trăn trở của tác giả đối với chuyện công danh: hai chữ công danh đã bị gắn liền với danh lợi, con đường tìm kiếm công danh trở thành con đường mưu cầu danh lợi tầm thường

Bằng con mắt sắc sảo, ông đã nhận ra công danh đã bị biến tướng trong thời buổi điên đảo,trở thành một miếng mồi ngon, có sức cám dỗ lớn đối với người đời.Vì danh lợi mà con người phải tất tả xuôi ngược, khó nhọc mà vẫn đổ xô vào

=> Sự chán ghét, khinh bỉ của Cao Bá Quát đối với phường danh lợi. Câu hỏi nhà thơ như trách móc, như giận dữ, như lay tỉnh người khác nhưng cũng tự hỏi bản thân. Ông đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, côn đường công danh đương thời vô nghĩa, tầm thường.

à Chuyện  công danh chưa phải là tất cả những gì khiến tác giả dằn vặt,mà niềm ưu tư của ông còn hướng về vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hơn lớn lao hơn: cả xã hội đang sống giữa cơn say danh lợi và qúa hiếm người tỉnh để nhận ra thực trạng này.

*Tóm lại: 6 câu thơ tưởng như rời rạc nhưng lại là những suy nghĩ sâu sắc của tác giả về con đường công danh – danh lợi. Cao Bá Quát cảm thấy chán ghét công danh tầm thường, ông muốn tìm cho mình một lối đi riêng.

– “ Bãi cát dài…ơi…”

Câu hỏi tu từ cuãng là câu cảm thán thể hiện tâm trạng băn khoăn, dây dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại.

– Khúc đường cùng : ý nghĩa biểu tượng → nỗi tuyệt vọng của tác giả. Ông bất lực vì không thể đi tiếp mà cũng không biết phải làm gì. Ấp ủ khát vọng cao cả nhưng ông không tìm được con đường  để thực hiện khát vọng đó. Hay đó là niềm khao khát thay đổi cuộc sống

– Hình ảnh thiên nhiên: phía bắc, phía nam đều đẹp nhưng đều khó khăn, hiểm trở.

àTác giả đã có sự lựa chọn: nên chăng là quay về ở ẩn, giữ riêng mình trong sạch , hoặc có thể là có những lựa chọn mới ở phía bắc núi bắc, phía nam núi nam nhưng ông cũng ý thức được những thử thách lớn khác đang đón chờ ở phía trước, một khi mình theo một sự lựa chọn mới, bởi không có gì yên bình ở phía bắc, cũng như ở phía nam. Núi muôn trùng, sóng muôn đợt đã giăng sẵn để đợi người

– “Anh đứng làm chi trên bãi cát?..” câu hỏi mệnh lệnh cho bản thân → phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa.

Nhịp điệu thơ lúc nhanh, lúc chậm. lúc dàn trả, lúc dứt khoát→ thể hiện tâm trạng suy tư của con đường danh lợi mà nhà thơ đang đi.

=> Hình tượng kẻ sĩ cô độc, lẻ loi đầy trăn trở nhưng kì vĩ, vừa quả quyết vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí đầy chông gai.

=> Tác giả đứng giữa bãi cát dài mênh mông mà không biết mình sẽ phải làm gì. Ông không muốn đi tiếp theo phường danh lợi vì đã chán ghét, khinh thường, không muốn hòa nhập với những con người tầm thường đó. Nhưng ông cũng không muốn lui về ở ẩn.

– “Anh đứng làm chi trên bãi cát ?”

à Câu hỏi mang âm hưởng của một lời thúc giục: nhân vật trữ tình tự giục mình, từ bỏ con dường trước mắt, con đường công danh mờ mịt, cần phải thoát khỏi cơn say danh lợi vô nghĩaàKhao khát thay đổi cuộc sống

=> Câu hỏi kết thúc đã gieo vào lòng độc giả niềm hi vọng, dù là thứ hi vọng khắc khoải, mong manh

* Tóm lại: Hiện lên ở 6 câu thơ cuối là hình ảnh một con người đang rơi vào con đường cùng tuyệt, bế tắc, chưa tìm ra một lối đi đúng đắn nhất cho bản thân.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Thơ cổ thể , hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa.

– Phương pháp đối lập, sáng tạo trong việc dùng điển cố điển tích.

– Câu hỏi tu từ.

– Về cách xưng hô: khách – lữ khách – ngôi thứ 3

Quân – anh: ngôi thứ 2

Ngã – tôi: ngôi thứ 1

Tác giả muốn đặt mình vào vị trí khác nhau, các điểm nhìn khác nhau bộc lộ tâm trạng của chính mình, đối thoại với chính mình.

 2. Nội dung

Bài thơ là khúc ca mang đậm tính nhân văn của một người cô đơn tuyệt vọng trên đường đời thể hiện qua hình ảnh bãi cát dài, con đường cùng và hình ảnh người đi trên bãi cát.

-Biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống

à Làm hiện lên chân dung tinh thần một nhà trí thức lớn tỉnh táo trước hiện thực, nhân cách cứng cỏi, bản lĩnh.

Ghi nhớ (SGK).

C. Hoạt động luyện tập

Tâm trạng của Cao Bá Quát thể hiện trong bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”.

Gợi ý :

– Hai câu “Không học được tiên ông phép ngủ – Trèo non, lội suối giận khôn vơi” thể hiện tâm trạng chán nản của tác giả vì tự mình phải hạ thân xác của mình theo đuổi công danh.

– Bốn câu thơ cuối: tác giả nói về sự cám dỗ của bả công danh đối với người đời. Mấy ai tỉnh táo thoát khỏi sự cám dỗ của rượu ngon cũng như mấy ai đủ tỉnh để thoát khỏi vòng danh lợi.

⇒ Tác giả muốn thoát khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa. Nhưng “Người say vô số, tỉnh bao người?”

– Tâm trạng của tác giả khi đi trên bãi cát là trạng chán nản, mệt mỏi rã rời. Ông muốn từ bỏ nhưng lại không bỏ được. Cuối cùng, ông vẫn bị cuốn vào dòng người đi trên bãi cát ấy, cuốn theo cái hơi men ấy.

– Tầm tư tưởng cao rộng của Cao Bá Quát là ở chỗ đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ.

 D. Hoạt động vận dụng, mở rộng

PHẦN DÀNH RIÊNG CHO 11A8

Qua bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”, anh (chị) hãy thử lí giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Gợi ý :

Cao Bá Quát khởi nghĩa chống nhà Nguyễn bởi vì

– Ông là một người đầy bản lĩnh, quyết không chịu say, không chịu “học phép ngủ” để cùng say ngủ với biết bao kẻ dung tục trong đời.

– Ông không chịu thỏa hiệp với dục vọng bản thân và với thực trạng xã hội đang tiềm chứa nhiều suy thoái.

– Sau nhiều lần đi thi không thành, ông đã nhận ra sự thối nát của bộ máy chính quyền nhà Nguyễn.

– Ông luôn khát khao thay đổi cuộc sống trì trệ, bảo thủ, bế tắc hiện tại

Bài thơ chứa đựng sự phản kháng âm thầm đối với trật tự hiện hành, cảnh báo sự thay đổi tất yếu trong tương lai. Trong một bài thơ khác ông viết:

Từ khi vượt bể qua đất Ba Sơn

Mới cảm thấy vũ trụ là bao la

Chuyện văn chương trước đây thực là trò trẻ con

Trong thế giới này có ai thật là bậc tài trai

Mà lại phí cả một đời đọc mấy pho sách cũ

=> CBQ đã thấy phải làm được việc gì lớn lao hơn, có ích cho đời hơn. Đó là lí do dẫn ông đến cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn.

E. Hoạt động củng cố, dặn dò

1. Củng cố

– Khái quát chân dung nhà thơ qua bức tranh tâm trạng người đi trên cát.

2. Dặn dò

– Học bài cũ.

– Tập bình những hình ảnh biểu tượng mình tâm đắc nhất.

– Chuẩn bị bài : Đọc thêm: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu); Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh).

Giáo án Bài ca ngắn đi trên bãi cát – Mẫu 2

I. Mục tiêu bài học

1. Kiến thức

– Giúp học sinh hiểu được tâm trạng chán ghét của Cao Bá Quát đối với con đường mưu cầu danh lợi tầm thường và niềm khao khát đối với cuộc sống trong hoàn cảnh xã hội nhà Nguyễn bảo thủ, trì trệ.

– Hiểu được mối quan hệ giữa nội dung và nghệ thuật của bài thơ cổ thể.

– Rèn luyện và củng cố cách đọc hiểu, phân tích một văn bản văn học trung đại.

2. Kĩ năng

– Phân tích thơ hát nói theo đặc trưng thể loại.

3. Thái độ

– Trân trọng nhân cách cao đẹp của Cao Bá Quát.

II. Phương tiện

1. Giáo viên

Sgk, giáo án, đọc tài liệu tham khảo.

2. Học sinh

Hs chủ tìm hiểu về tác giả, thể loại, đọc kĩ về tác phẩm.

III. Phương pháp

Nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, thảo luận nhóm, thưc hành, đọc diễn cảm…

IV. Hoạt động dạy & học

1. Ổn định tổ chức lớp

Sĩ số: ………………………………….

2. Kiểm tra bài cũ

– Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”.

– Phân tích lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi làm quan và khi về hưu?

3. Bài mới

Hoạt động 1

Cao Bá Quát là một trong nhưng người nổi tiếng của Việt Nam ở đầu thế kỉ XIX. Ông nổi tiếng vì học giỏi, vì thơ hay vì chữ đẹp. Ông càng nổi tiếng hơn vì tư tưởng tự do phóng khoáng, bản lĩnh kiên cường, lối sống thanh cao mạnh mẽ. Người đời thường ca ngợi ông :

“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán

Nhất sinh đệ thủ bái hoa mai”

Tuy nhiên Cao Bá Quát cũng đã rơi nước mắt trên đường đi tìm công danh cũng như tâm trạng chán ghét của một người tri thức trên đường đi tìm danh lợi. Để hiểu hơn về vấn đề này ta tìm hiểu bài mới.

Hoạt động của GV và HS

Kiến thức cần đạt

TIẾT 15

 

Hoạt động 2. Hoạt động hình thành kiến thức mới

HS đọc tiểu dẫn và tóm tắt ý chính.

GVchuẩn xác kiến thức.

– Sinh thời Cao Bá Quát có hai câu thơ tỏ chí khí của mình, được xem là đầy khí phách:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai.

(Mười năm giao thiệp tìm gươm báu

Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai)

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Cao Bá Quát ( 1809 – 1855 )

– Quê: làng Phú Thị, Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội ).

– Là người có tài, nổi tiếng văn hay chữ tốt và có uy tín lớn trong giới trí thức đương thời.

– Là người có khí phách hiên ngang, có tư tưởng tự do, ôm ấp hoài bão lớn, mong muốn sống có ích cho đời.

Em hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?

VHTĐ có: Côn Sơn ca (Nguyễn Trãi) Long thành cầm giả ca

( Nguyễn Du ) có cùng thể loại.

2. Bài thơ

– Hoàn cảnh sáng tác: Cao Bá Quát đi thi Hội. Trên đường vào kinh đô Huế, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng (Quảng Bình, Quảng Trị), hình ảnh bãi cát dài, sóng biển, núi là những hình ảnh có thực gợi cảm hứng cho nhà thơ sáng tác bài thơ này.

– Thể thơ: thể ca hành (thơ cổ Trung Quốc được tiếp thu vào Việt Nam).

Hướng dẫn HS tìm văn bản thông qua trao đổi, thảo luận nhóm.

– Gọi HS đọc văn bản, GV nhận xét và hướng dẫn đọc lại.

II. Đọc – hiểu văn bản

Bãi cát và con người đi trên bãi cát được miêu tả như thế nào?

1. Hình ảnh “bãi cát” và con người đi trên bãi cát

– “Bãi cát dài lại bãi cát dài” : mênh mông dường như bất tận, nóng bỏng.

Theo em đây là cảnh thực hay cảnh biểu tượng?

→ Hình ảnh tả thực: đẹp nhưng dữ dội, khắc nghiệt đã gợi ý cho nhà thơ sáng tác bài thơ này.

→ Hình ảnh biểu tượng: con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi.

Hình ảnh người đi trên bãi cát được miêu tả như thế nào? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

+ Đi một bước như lùi một bước: nỗi vất vả khó nhọc

+ Không gian đường xa, bị bao vây bởi núi sông, biển

+ Thời gian: mặt trời lặn vẫn còn đi.

+ Nước mắt rơi → khó nhọc, gian truân.

⇒ Sự tất tả, bươn chải dấn thân để mưu cầu công danh, sự nghiệp.

HẾT TIẾT 15, CHUYỂN SANG TIẾT 16.

 

Gv hướng dẫn hs tìm hiểu tâm trạng và suy nghĩ của lữ khách đi trên bãi cát:

2. Tâm trạng và suy nghĩ của lữ khách khi đi trên bãi cát

Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết của 6 câu thơ:

“ Không học được tiên ông phép ngủ…

Người say vô số tỉnh bao người”

Gv cho hs thảo luận trình bày theo nhóm.

 

Định hướng:

Tâm trạnh người lữ khách trên bãi cát như thế nào?

– “Không học được….giận khôn vơi”

Nhịp điệu đều, chậm, buồn: tác giả tự giận mình không có khả năng như người xưa, mà phải tự hành hạ mình, chán nản mệt mỏi vì công danh – lợi danh.

Tâm trạng đó dược bộc lộ như thế nào?

– “Xưa nay phường….bao người”

Câu hỏi tu từ, hình ảnh gợi tả (hơi men)

→ Sự cám dỗ của danh lợi đối với con người. Vì công danh, lợi danh mà con người bôn tẩu ngược xuôi. Danh lợi cũng là thứ rượu thơm làm say lòng người.

Em hiểu cụm từ “đường danh lợi” là như thế nào trong XHPK?

⇒ Sự chán ghét, khinh bỉ của Cao Bá Quát đối với phường danh lợi. Câu hỏi nhà thơ như trách móc, như giận dữ, như lay tỉnh người khác nhưng cũng tự hỏi bản thân. Ông đã nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, côn đường công danh đương thời vô nghĩa, tầm thường.

Phân tích ý nghĩa biểu tượng của khúc đường cùng? Tâm trạng nhà thơ?

– “ Bãi cát dài…ơi…”

Câu hỏi tu từ cũng là câu cảm thán thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại.

– Khúc đường cùng : ý nghĩa biểu tượng → nỗi tuyệt vọng của tác giả. Ông bất lực vì không thể đi tiếp mà cũng không biết phải làm gì. Ấp ủ khát vọng cao cả nhưng ông không tìm được con đường để thực hiện khát vọng đó. Hay đó là niềm khao khát thay đổi cuộc sống

Hình ảnh thiên nhiên được miêu tả có dụng ý gì?

– Hình ảnh thiên nhiên: phía bắc, phía nam đều đẹp nhưng đều khó khăn, hiểm trở.

Câu cuối mang ý nghĩa gì?

– “Anh đứng làm chi trên bãi cát?..” câu hỏi mệnh lệnh cho bản thân → phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa.

Nhịp điệu thơ lúc nhanh, lúc chậm. lúc dàn trả, lúc dứt khoát→ thể hiện tâm trạng suy tư của con đường danh lợi mà nhà thơ đang đi.

⇒ Hình tượng kẻ sĩ cô độc, lẻ loi đầy trăn trở nhưng kì vĩ, vừa quả quyết vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí đầy chông gai.

Nhận xét giá trị nghệ thuật trong bài thơ?

3. Nghệ thuật

– Thơ cổ thể , hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa.

– Phương pháp đối lập, sáng tạo trong việc dùng điển cố điển tích.

Qua phân tích bài thơ em hãy nêu ý nghĩa của bài thơ?

4. Ý nghĩa văn bản

Bài thơ là khúc ca mang đậm tính nhân văn của một người cô đơn tuyệt vọng trên đường đời thể hiện qua hình ảnh bãi cát dài, con đường cùng và hình ảnh người đi trên bãi cát.

Hoạt động 3: Tổng kết

HS đọc ghi nhớ SGK.

III. Tổng kết

Ghi nhớ (SGK).

Hoạt động 4: Hoạt động thực hành

GV hướng dẫn HS

IV. Luyện tập

Cao Bá Quát hăm hở tìm lý tưởng nhưng không thành

+ Chín năm cứ ba năm một lần đi thi không đỗ tiến sĩ

+ Về sau được nhận chức tập sự ở Bộ Lễ

+ Tình thương, trọng người tài nên gây tội và bị đi đày ở

+ Ông nhận ra nhiều điều bất công từ sự bóc lột của triều đình nhà Huế

→ Ông ý thức được sự tầm thường của danh lợi, và chế độ vì vậy ông khao khát làm nên điều ý nghĩa, lớn lao hơn cho đời, dẫn tới cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn

4. Củng cố

– Đọc lại văn bản. Diễn xuôi.

– Đọc diễn cảm.

– Khái quát chân dung nhà thơ qua bức tranh tâm trạng người đi trên cát.

5. Dặn dò

– Nắm nội dung bài học.

– Tập bình những hình ảnh biểu tượng mình tâm đắc nhất.

– Chuẩn bị bài : Luyện tập thao tác lập luận phân tích.

Đăng bởi: THPT Trịnh Hoài Đức

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

trinhhoaiduc
@ Trường THPT Trịnh Hoài Đức – Trường Trung Học Chất Lượng Cao
Bài viết mới nhất
Chuyên mục
Bài viết liên quan
Bài viết xem nhiều

Trường THPT Trịnh Hoài Đức - Trường Trung Học Chất Lượng Cao

Địa chỉ: DT745, Thạnh Lợi, An Thạnh, Thuận An, Bình Dương

Điện thoại: 0650.825477

Website: https://thpttrinhhoaiduc.edu.vn/

Danh mục bài viết